03/04/2026

THẰNG CÂM

Dưới ánh đèn vàng đục treo cao lủng lẳng, chợ đầu mối Sài Gòn thức dậy từ khi trời còn tối hù. Mới hơn hai giờ khuya mà xe tải đã nối đuôi nhau bò vô bãi, đèn pha quét trắng từng khoảng nền xi măng ướt nhớp nước, chỗ đọng nước rau, chỗ lẫn nước đá tan, chỗ còn dính bùn từ mấy sọt hàng dưới quê chở lên.
Tiếng máy nổ ì ì, tiếng thắng xe rít ken két, tiếng người réo nhau, tiếng quăng thùng hàng cái rầm, cái bịch, tiếng dao chặt dây lạt xoẹt xoẹt, tiếng kéo xe lọc cọc chen lẫn tiếng chửi đổng, tiếng trả giá, tiếng cười nói rổn rảng. Mùi cá tươi, mùi mực, mùi rau hăng, mùi trái cây chín nẫu, mùi khói thuốc, mùi mồ hôi người quyện vô nhau thành một thứ hơi riêng của chợ đầu mối, thứ hơi nồng nồng ngai ngái mà ai đã sống bằng cái chợ này lâu ngày thì hít vô nghe quen ruột quen gan, còn người lạ mới đặt chân tới là dễ nhăn mặt, chảy nước mắt.
Dọc mấy dãy sạp, ánh đèn neon hắt xuống làm mặt người nào cũng xanh xanh tái tái. Mấy bà, mấy chị mặc áo khoác mỏng, quấn khăn, chân mang dép nhựa, tay lựa hàng lia lịa, mắt canh từng mối quen, miệng nói không ngơi nghỉ. Ở một góc khác, mấy tay bốc vác mình trần bóng nhẫy, vai sần lên vì năm tháng cõng hàng, cứ vậy mà lội bì bõm giữa chợ như đi trong sân nhà. Cái chợ đó là một cái bụng lớn của Sài Gòn, đêm nào cũng há miệng nuốt vô hàng hóa từ tứ xứ rồi sáng ra nhả đi khắp nơi, nuôi sống biết bao nhiêu đời người.
Giữa cái xôn xao chộn rộn đó, có một đứa mà ai trong chợ cũng biết mặt. Không ai nhớ tên khai sanh của nó là gì, có người nói hồi mới lên nghe nó viết nguệch ngoạc trên miếng giấy là thằng Đực, có người nói không phải, tên nó là Tèo, mà rồi nói tới nói lui riết thành chẳng ai buồn nhớ nữa. Cả chợ gọi nó là thằng Câm. Nó không nói được từ nhỏ, không phải kiểu ít nói hay ngại nói, mà là thiệt tình có muốn cũng không phát ra trọn tiếng. Mỗi lần cần biểu lộ gì, nó chỉ ậm à ậm ừ trong cổ họng, xua tay, gật đầu, lắc đầu, hoặc dùng đôi mắt mà nhìn người ta. Lạ một điều, nó không nói được mà ai trong chợ ở lâu với nó rồi cũng đoán ra nó muốn gì. Chắc tại cái mặt nó hiền quá, cái bụng nó lành quá, thành ra nhìn cử chỉ là hiểu.
Thằng nhỏ người ốm nhách, da đen sạm vì nắng gió, hai cánh tay nổi gân, vai nhỏ mà rắn rỏi. Mái tóc cắt ngắn, lúc nào cũng bết mồ hôi, dính bụi. Nó hay mặc mấy cái áo thun cũ người ta cho lại, cái nào cũng bạc phếch, cổ áo dão ra, quần thì đen thui vì nước bẩn với đất cát, dép nhựa mòn gót. Vậy mà mặt nó lúc nào cũng sáng, nhất là đôi mắt. Mắt nó trong vắt, ngó ai cũng như ngó người thân, không có cái nét láu cá hay lom lom của đứa sống lăn lóc ngoài đời. Cái cười của nó cũng lạ. Nó cười không có tiếng, chỉ là khóe miệng nhếch lên, mắt hơi híp lại, gương mặt đang mệt mỏi bỗng chốc sáng rỡ lên như vừa có ai thắp cây đèn nhỏ trong lòng nó.
Nó làm đủ thứ việc trong chợ. Khuya khuya, xe nào vừa trờ tới là nó chạy lại xốc hàng. Bốc xong mớ rau thì qua phụ kéo giỏ trái cây. Hết bên này lại sang bên kia quét dọn, khiêng nước đá, gỡ dây lạt, xếp thùng, đẩy xe. Ai kêu gì nó làm nấy, ít khi từ chối, trừ lúc hai tay đang vướng việc chưa dứt thì nó chắp tay xin chờ chút. Có bữa làm từ lúc trời tối mịt cho tới lúc nắng đứng bóng, ăn vội chén cơm nguội rồi lăn ra góc chợ ngủ một chập, chiều lại lụm cụm dậy làm tiếp.
Người ta nói nó siêng như trâu, mà trâu còn có lúc đứng thở, chớ nó thì nhiều khi mệt muốn đứt hơi cũng ráng. Hỏi ra mới biết dưới quê nó còn má già đau bệnh, nằm một đống đã mấy năm. Nó lên Sài Gòn làm thuê, chắt chiu từng đồng gửi về nuôi má, mua thuốc, mua gạo. Chuyện cha nó là ai thì không ai biết. Cũng có lời xì xào rằng má nó hồi trẻ lỡ dở với ai đó rồi đẻ nó ra, người đàn ông kia biệt tăm. Mấy chuyện vậy ở xứ nghèo đâu phải hiếm nhưng con nít sinh ra đã mang tiếng đời, lớn lên lại thiếu cha thiếu chữ, bước đi ở đâu cũng như bị người ta lén ngó sau lưng. Có điều thằng Câm chưa từng tỏ ra oán hờn ai. Người ta hỏi tới chuyện nhà là mắt nó dịu xuống, lấy tay chỉ về hướng xa xa, rồi chắp hai bàn tay lên má nghiêng đầu, ý nói má già đang nằm bệnh. Chừng đó thôi cũng đủ làm người đối diện nén lại tiếng thở dài.
Trong chợ, người thương nó thiệt lòng không ít. Bà Năm bán cá là người hay cho nó ăn nhất. Bả chừng ngoài năm mươi, nước da rám nắng, tay lúc nào cũng tanh mùi cá, miệng lúc nào cũng lanh chanh, vậy mà thấy nó là giọng hạ xuống liền.
Bữa nào thấy nó làm đầu tắt mặt tối chưa kịp bỏ gì vô bụng, bả lại múc cho chén cơm nguội chan nước cá kho hay bẻ cho khúc cá chiên, hất hàm kêu lại ăn. Nó chắp tay cười, cúi đầu lia lịa. Anh Tư chạy xe tải mỗi lần chở hàng miền Tây lên cũng hay nhường cho nó chỗ ngồi trên thùng xe, có gì ăn thì dúi cho nó một phần. Chị Hồng bán rau lâu lâu kẹt đi công chuyện là giao nguyên sạp cho nó đứng coi, khách lại mua gì thì nó cân đo, đưa hàng, chỉ chỉ trỏ trỏ chớ chưa hề thiếu trước hụt sau đồng nào.
Có lần một bà khách đánh rơi xấp tiền trên nền chợ, thiên hạ đi qua đi lại không ai để ý, chỉ có nó chụp lên rồi cắm đầu chạy theo trả. Bà kia cảm động định cho nó ít tiền, nó xua tay quầy quậy, cười cười rồi quay lưng đi làm tiếp. Chuyện vậy trong chợ này không nhiều, nên người ta càng quý nó.
Nhưng ở đâu cũng vậy, thương thì có thương, coi thường cũng có coi thường. Vài người thấy nó không nói được, không biết chữ nhiều, quê mùa, không cha, ở trọ ổ chuột, thì coi nó như đứa ở đợ. Kêu làm gì làm đó, trả công cắc bạc, bữa nào không vừa ý thì nạt nộ. Có ông chủ sạp nóng tánh, hễ hàng xuống chậm là quát thẳng vô mặt nó, chửi những câu nghe muốn rát tai. Nó chỉ cúi đầu, cắn răng mà làm, xong việc thì lặng lẽ bước đi.
Có bữa bị oan chuyện bể thùng hàng, người khác làm mà nó đứng gần đó nên bị đổ thừa. Nó giơ tay phân bua loạn xạ, cổ họng ứ ra mấy tiếng ú ớ khan đặc, vậy mà người ta càng bực, gạt phắt. Nó đành nuốt vô. Có lẽ bởi từ nhỏ tới lớn nó quen sống kiểu đó, quen bị hiểu lầm mà không biết cãi làm sao. Mỗi lần như vậy, nó chỉ ngó mông lung một hồi rồi lại cắm đầu vô việc. Sự nhẫn nhịn nơi nó nhiều tới mức người ta nhìn vô có khi thương, có khi xót, mà cũng có khi thấy chướng vì làm như đời có vùi dập cỡ nào nó cũng không bật lại.
Thằng Câm ở trọ tận trong một con hẻm nhỏ sát mé kênh, căn phòng lợp tôn thấp tè, nóng hầm hập ban ngày, mưa xuống thì gõ lên mái nghe ràn rạt. Trong phòng chỉ có cái bộ ván cũ, cây quạt máy quay kêu rè rè, cái thùng nhựa đựng đồ và cái bếp gas mini. Trên vách có treo tấm hình nhỏ của má nó, chụp hồi còn ngồi dậy được, người gầy nhách, tóc bạc quấn sau gáy, mắt buồn hiu.
Mỗi lần lãnh tiền công, nó đếm đi đếm lại kỹ lắm, chừa ra ít đồng đóng tiền trọ, ăn uống dè xẻn hết mức, còn bao nhiêu gom gửi về quê. Nó không biết viết nhiều nên mỗi lần ra chỗ chuyển tiền chỉ lôi trong túi ra tờ giấy nhàu nát ghi địa chỉ ấp, xã, tên má nó, rồi chìa cho người ta. Có bận bà Năm hỏi sao lâu quá không về thăm má, nó lấy tay chỉ vô túi quần trống trơn rồi dang hai tay ra, gương mặt cười mà mắt buồn. Bà Năm hiểu liền. Người nghèo đâu phải cứ muốn là về. Có khi cái vé xe mấy trăm ngàn thôi mà thành một quãng đường xa hun hút, dài hơn cả từ Sài Gòn về quê.
Chuyện bắt đầu từ một buổi trưa nắng gắt. Chợ vừa qua cơn đông, hàng đã vãn, chỉ còn mấy sạp đang kiểm đếm tiền bạc, mấy tay bốc vác ngồi thở dốc bên xe đẩy. Ông Bảy chủ vựa trái cây lớn trong chợ đang cột lại mấy xấp tiền thì nghe điện thoại, bỏ vội vô ngăn kéo. Chừng quay vô, ổng la thất thanh. Tiền mất. Xấp tiền mấy chục triệu, mới gom của mấy mối bỏ sỉ sáng nay, biến mất như bốc khói. Chợ đang râm ran bỗng chựng lại rồi xao lên như chọc trúng ổ kiến lửa. Ông Bảy trợn mắt, mặt đỏ gay, lật tung sổ sách, kéo ngăn kéo, lục hết thùng hàng xung quanh. Không thấy. Ai nấy đứng gần đó đều bị nhìn bằng con mắt nghi hoặc. Rồi không hiểu sao ánh mắt lại dồn về phía thằng Câm, lúc đó đang bê mấy sọt cam từ ngoài vô.
Có người nói hồi nãy thấy nó lảng vảng gần vựa. Có người nói nó đang cần tiền về quê. Có người nói đứa không nói được càng dễ giấu. Mấy lời xì xào đẩy qua đẩy lại chưa tới đâu mà không khí đã đặc quánh. Thằng Câm đặt sọt xuống, ngó quanh, mặt ngơ ngác. Khi thấy ông Bảy chỉ tay thẳng vô mình, nó lắc đầu lia lịa. Hai bàn tay nó vung lên, chụm vô ngực rồi xua ra, ý nói không phải, không phải nó nhưng càng cuống, tiếng ú ớ trong cổ càng thành vô nghĩa.
Người đang nóng ruột thì đâu ai có kiên nhẫn ngồi đoán. Ông Bảy xấn tới lục túi nó. Mấy người khác cũng nhào vô phụ. Cái áo thun mỏng bị nắm kéo nhăn nhúm, túi quần lộn trái ra ngoài. Trong người nó chỉ có mấy tờ tiền lẻ, cái khăn rằn cũ, với tờ giấy ghi địa chỉ nhà. Không có xấp tiền nào. Vậy mà cơn nghi ngờ đã lên tới đỉnh thì có thiếu chứng cứ người ta cũng không chịu lui. Có người nói chắc nó giấu đâu rồi. Có người biểu lôi nó vô phòng bảo vệ hỏi cho ra lẽ. Nó bị níu lại, bị đẩy qua đẩy lại giữa nền chợ hôi mùi nước bẩn. Nó nhìn từng gương mặt quanh mình, toàn gương mặt quen, người mới hồi sáng còn nhờ nó khiêng hàng, người mới bữa qua còn cho nó chén cơm. Vậy mà giờ ai cũng cứng như mặt sạp.
Lần đầu tiên người ta thấy mắt nó đỏ ngầu. Không phải cái đỏ của đứa lì lợm, mà là cái đỏ của người oan ức tới nghẹn thở. Nó cố bật ra tiếng, cổ gân lên, môi run bần bật nhưng chỉ nghe được mấy âm rít khan như gió lùa qua khe cửa. Càng bất lực, mắt nó càng mở to. Bà Năm đứng gần đó, muốn chen vô nói đỡ mà mấy người đàn ông đang hăng quá, tiếng bả lọt thỏm giữa đám đông.
Chị Hồng cũng nói nó không phải hạng đó nhưng ông Bảy mất món tiền lớn nên chẳng còn nghe ai. Có đứa còn lấy sợi dây nhựa cột lỏng hai tay nó lại, cho ngồi xuống một góc trước vựa. Cảnh đó làm mấy người có lòng cũng thấy xót, mà xót thì xót, giữa cái chợ sống bằng nghi ngờ và đề phòng, đâu ai dám chắc cho ai. Trên mái tôn chợ, mây kéo tới đen nghịt. Chưa đầy mươi phút sau, mưa Sài Gòn đổ ào xuống, xối lên mái tôn nghe chát chúa. Nước tạt thành màn trắng mờ ngoài lối đi. Người trong chợ đứng co lại, mưa càng làm câu chuyện thêm nặng trĩu.
Đúng lúc ai nấy còn đang bán tín bán nghi, thằng phụ việc mới vô làm ở vựa trái cây chạy hớt hải từ phía sau ra, mặt cắt không còn giọt máu. Nó bươi trong đống thùng xốp rồi lôi lên một bọc nylon cột sơ sài. Mở ra, xấp tiền nằm gọn trong đó. Té ra hồi nãy ông Bảy đang kiểm đếm thì có khách tới giục giao hàng, ổng vội nhét đại vô bọc, kẹp lên thùng trái cây rồi quên bén. Cả chợ im phăng phắc.
Tiếng mưa ngoài kia như xa đi một quãng. Ông Bảy đứng chết trân, tay cầm xấp tiền mà mặt sượng lại. Mấy người mới nãy hăng nhất giờ lúng túng, ngó chỗ này chỗ kia, không dám nhìn thẳng vô mắt nó. Sợi dây cột tay được tháo ra. Bà Năm bước tới đỡ nó dậy, miệng nói mấy câu cho có, rằng thôi lỡ rồi, thôi đừng để bụng. Ông Bảy ậm ừ mấy tiếng xin lỗi mà nghe nhẹ hều như bụi.
Thằng Câm đứng dậy, phủi quần. Nó không làm dữ, không hất tay, không chỉ trỏ trách móc. Nó chỉ cúi đầu một cái, như thói quen bao năm nay vẫn vậy nhưng ngay lúc nó ngước lên, ai nhìn thấy mắt nó đều chợt sượng trong lòng. Cái trong veo ngày nào dường như sậm lại một lớp. Không tới nỗi hận, mà giống như có thứ gì đó vừa âm thầm bể trong lòng nó, không kêu thành tiếng nhưng người ta vẫn cảm được.
Mưa tạnh, chuyện tưởng đâu xong, nào dè tới chiều bà Năm mới hay thêm một chuyện khác còn đau hơn. Số tiền lẻ nó dành dụm bao tháng, cuộn kỹ bỏ trong cái túi vải nhỏ giấu dưới đòn gánh, đã mất tiêu trong lúc người ta xốc tung đồ đạc của nó ra mà lục. Không ai biết rớt đâu, lẫn vô đống nào, hay bị ai cầm luôn. Số tiền đó nó chắt từng chục ngàn, từng trăm ngàn, định bụng ít bữa nữa có đủ sẽ về quê coi má. Giờ sạch trơn. Bà Năm thấy nó ngồi thu lu bên vách, hai bàn tay trống không đặt trên đầu gối, đầu cúi xuống, nước từ tóc nhỏ tong tong xuống nền. Nó không khóc. Cái đau của nó tới mức khô queo, không còn nước mắt.
Sáng bữa sau, lúc chợ vừa nhúc nhích trở mình sau một đêm ngắn ngủi, bà Năm lẳng lặng để trước mặt nó mấy tờ tiền gấp tư. Bả không nói dài dòng, chỉ hất hàm: Cầm đi. Nó ngơ ngác. Chưa kịp phản ứng thì anh Tư xe tải móc túi bỏ thêm. Chị Hồng bán rau bỏ thêm. Mấy người bốc vác, cô bán ớt, ông bán khoai, chị bán trứng, mỗi người chút đỉnh. Có người khá thì cho nhiều, người eo hẹp thì cho ít nhưng ai cũng đặt xuống bằng cái lòng thiệt bụng.
Mấy người hôm qua im lặng đứng nhìn giờ cũng đỏ mặt móc túi góp vô như trả một món nợ lương tâm. Tiền không nhiều tới mức dư dả nhưng gom lại cũng đủ cho một chuyến xe về quê, đủ mua thêm ít thuốc men cho má nó. Thằng Câm đứng sững, mắt ầng ậng. Nó chắp tay cúi đầu liên tục, cúi tới cúi lui như sợ lòng biết ơn của mình không đủ để đáp lại nghĩa tình đang dồn về. Có người nói nhỏ, giọng đặc quánh: Nó không nói được, mà sống đàng hoàng hơn khối đứa nói hay như hát. Câu đó chẳng lớn, vậy mà đi suốt dãy chợ, ai cũng nghe.
Hai bữa sau nó đón xe về quê. Trời chưa sáng hẳn, bà Năm gói cho mấy đòn bánh tét với bịch cá kho. Anh Tư chở nó ra bến. Nó ngồi trên xe, ôm cái túi đồ nhỏ trước ngực, mắt nhìn dòng đường Sài Gòn còn đẫm sương sớm. Không ai biết trên đoạn đường dài hun hút đó nó nghĩ gì. Chỉ nghe người ở quê kể lại rằng nó về tới nhà lúc chiều lưng lửng. Má nó nằm trên bộ ván sát cửa sổ, người tóp teo như chiếc lá khô. Bà còn tỉnh, còn nhận ra con.
Thấy nó bước vô, bà ráng nhích bàn tay gầy còm ra nắm lấy tay nó, nắm lâu lắm. Nó quỳ dưới đất, úp mặt vô bàn tay đó mà run. Không có tiếng gọi má, không có một lời thưa gửi tròn vành, chỉ có đôi vai nó rung lên từng chập. Má nó vuốt đầu nó, ánh mắt đục mờ mà yên lại, như người đàn bà khổ cả một đời rốt cuộc cũng chờ được đứa con đi xa quay về. Bà mất sau đó hai hôm, trong một buổi khuya gió lùa qua mấy tàu lá chuối ngoài sân nghe xào xạc. Lúc nhắm mắt, một tay bà còn đặt trên cườm tay nó. Hàng xóm nói vậy.
Gần tháng sau, thằng Câm trở lên lại chợ đầu mối. Nó vẫn mặc cái áo thun cũ, vẫn quấn khăn rằn, vẫn đi đôi dép mòn cũ xì. Chỉ có điều trông nó lặng hơn trước. Hồi xưa nó hay cười liền khi ai chọc ghẹo, giờ nụ cười tới chậm hơn, mỏng hơn. Nó vẫn làm việc siêng như cũ, vẫn thấy đồ rơi là lượm trả, vẫn phụ người ta không nề hà, vẫn ăn uống đạm bạc, vẫn tới góc chợ ngồi nghỉ một mình mỗi khi quá mệt.
Chợ đầu mối thì vẫn y vậy, đêm nào cũng sáng đèn, cũng ầm ào, cũng mùi cá mùi rau mùi mồ hôi quện vô nhau, cũng những chiếc xe tải từ miền Tây, miền Đông, Đà Lạt, miền Trung đổ hàng về, cũng những gương mặt tất tả lo cơm áo. Thiên hạ trong chợ vẫn cãi nhau rồi làm hòa, vẫn trả giá từng đồng, vẫn buồn vui theo mùa hàng. Mọi thứ không ngừng trôi. Chỉ có người từng chứng kiến chuyện của nó thì mỗi lần nhìn nó lom khom kéo xe qua vũng nước đen là trong dạ lại nghe nhói lên một chút.
Về sau, không mấy ai còn nhắc chuyện mất tiền bữa đó. Người trong chợ sống gấp, chuyện lớn cách mấy rồi cũng bị chuyện khác đè lên nhưng có những thứ quên trên đầu môi mà không quên trong bụng. Bà Năm nhiều lần ngồi nhìn nó ăn cơm bên thau cá mà thở dài. Bả biết từ ngày má mất, nó không còn ai ở quê để trông về nữa. Đời nó từ đó như sợi dây neo bị cắt phứt, trôi giữa thành phố này mà không còn bến nào thiệt sự gọi là nhà.
Có điều lạ, càng không còn chỗ dựa, nó càng sống đàng hoàng hơn. Ai bệnh nó phụ đưa đi. Ai thiếu tay nó xông vô đỡ. Gặp đứa nhỏ lạc má giữa chợ nó dắt đi kiếm. Thấy bà cụ bán hàng ngồi chép miệng vì ế, nó lẳng lặng xốc giúp mấy giỏ nặng ra chỗ dễ bán hơn. Nó sống như thể trong lòng mình có một ngọn đèn nhỏ, không sáng rực để thiên hạ trầm trồ, chỉ đủ soi cho nó bước từng bước ngay thẳng qua phần đời tối tăm của chính mình.
Có những buổi gần sáng, chợ vừa thưa bớt tiếng người, trời ngoài kia bắt đầu nhợt nhạt, nó hay đứng một mình ở cuối dãy sạp, nơi nước dơ trong chợ theo con mương nhỏ rút ra ngoài cống. Nó đứng nhìn về phía bầu trời đang lên sáng, mặt buồn buồn, xa xa. Không biết nó nhớ má, hay nhớ một mái nhà nào chưa từng có trọn vẹn, hay chỉ đang để cho nỗi mệt của cuộc đời thấm ra từ từ. Sài Gòn rộng dữ lắm, mà chỗ cho một đứa như nó dựa lưng coi bộ chật chội vô cùng.
Người ta có thể chen nhau trong chợ, cười nói om sòm, gọi nhau anh hai chị ba thân tình nhưng đến lúc quay lưng đi về, ai cũng mang theo một phần cô độc riêng. Cô độc của nó không thành lời, nên lại càng thăm thẳm. Nhiều bữa bà Năm thấy nó ngồi cầm tấm hình cũ của má nhìn một hồi lâu, ngón tay chai sạn vuốt lên mép hình, mắt dợn nước mà không rơi ra. Cái buồn đó không làm náo động ai, không bắt ai phải dỗ dành nhưng nó thấm dai như mưa dầm, len vô lòng người đối diện rồi ở lại hoài.
Rồi năm tháng cứ vậy mà qua. Chợ thay người mới người cũ, sạp này sang tay sạp kia, có người làm ăn khấm khá chuyển đi, có người đổ nợ biến mất, có người bữa trước còn cười sang sảng bữa sau đã nằm viện. Chỉ riêng thằng Câm như cái bóng quen, cứ lặng lẽ có mặt ở đó, không kêu, không than, không khoe công, không kể khổ. Người ta nhìn vô nó mà ngẫm ra nhiều điều. Một đứa không cha, ít chữ, không nói được, mang hết thảy phần thiệt thòi của đời, vậy mà trong lòng vẫn giữ được cái nết ngay lành, thiệt không phải chuyện dễ.
Ở đời, có người học cao hiểu rộng mà lòng vòng vo, có người nói năng ngọt xớt mà bụng đầy toan tính, có người được thương yêu đủ đầy mà vẫn hóa cay nghiệt. Còn nó, từ bàn tay trắng trơn tới nỗi oan không cãi được, từ căn phòng trọ thấp lè tè tới chuyến xe về chịu tang má, đi qua hết mấy chỗ ngặt nghèo mà không để cái ác mọc lên trong tim.
Có lẽ bởi nó hiểu tận đáy cái khổ của con người, nên không nỡ làm khổ thêm ai. Mà cũng có lẽ bởi khi đời lấy của mình quá nhiều, người ta chỉ còn hai đường: hoặc hóa thành sỏi đá, hoặc ráng giữ chút nhân hậu cuối cùng như giữ lửa trong đêm. Nó chọn giữ lửa.
Nghĩ cho cùng, con người sống hơn nhau đâu phải ở chỗ nói được bao nhiêu lời hay, biết bao nhiêu chữ nghĩa, hay có danh phận lớn lao cỡ nào. Sống hơn nhau là khi đi qua dâu bể mà lòng mình vẫn không nỡ đạp lên lòng người khác, bởi rốt cuộc thứ ở lại lâu nhất trên cõi đời này không phải tiếng nói của một cái miệng, mà là tiếng động thầm lặng của một tấm lòng.

Bùi Vĩnh Thế

Giới thiệu về Dự Án Nam Bộ Chợ Lạc Xoong xem tại đây

Our goal is to help people in the best way possible. this is a basic principle in every case and cause for success. contact us today for a free consultation. 

Menu

Đăng ký nhận tin

Vui lòng điền email để nhận thông tin mới nhất