“Gắn bó với ai đó thật nguy hiểm biết chừng nào. Nó có thể khiến ta khổ sở đến mức khó lòng tin nổi. Chỉ riêng nỗi sợ bị mất đi người kia cũng đủ đau đớn lắm rồi…” – Người trộm bóng” của Marc Levy
___
Tết, cái nhà lại xôm tụ y hệt hồi mấy đứa nhỏ chưa ra riêng. Cái sân trước dép guốc nằm chật ních, đủ kiểu, đủ cỡ. Đôi dép mủ của thằng cháu nội, dép quai ngang của con dâu, rồi tới đôi giày ba-ta cũ xì của thằng Út mang từ Sài Gòn về còn đóng lớp bụi đường dày cộp. Má ngó đống dép mà cười thầm trong bụng. Tự dưng thấy cái sân nhà mình nó nở ra, như thể sau bao năm trời mới được hít một hơi thiệt dài cho đã phổi.
Bếp núc mấy bữa Tết đỏ lửa liên miên. Nồi thịt kho rịu sôi lục bục, nước dừa sắc lại thành màu cánh gián thơm phức, đứng ngoài hiên thôi mà cái bụng đã đánh lô tô. Mấy đứa nhỏ rượt nhau rần rần, la hét chí tử để giành cho bằng được cái đồ bấm tivi. Người lớn thì ngồi túm tụm, tỉ tê chuyện làm ăn, rồi hỏi han năm rồi mạnh giỏi ra sao, đoạn lại cười xòa, gắp thêm miếng mỡ, múc thêm vá canh khổ qua.
Má hay ngồi mé ngoài, chỗ cái ghế đòn thấp xỉn sát cửa bếp. Má ít khi lên tiếng, cứ ngồi đó như đang canh giữ một thứ gì thiêng liêng lắm. Có khi là giữ lửa, có khi là giữ tiếng cười, hay có khi là giữ cái hơi ấm để nhà này vẫn thiệt sự là “nhà”, chớ hổng phải cái địa chỉ lâu lâu tụi nhỏ mới ghé qua thắp cây nhang rồi đi.
Đêm ba mươi, lúc con cháu ngủ lăn lóc trong buồng, đứa vắt ngang đứa vắt dọc, má lẳng lặng ra hiên ngồi một mình. Gió sông thổi hiu hiu, mấy tàu dừa xào xạc nghe buồn não ruột. Ngoài lộ, thỉnh thoảng có tiếng xe máy nẹt pô chạy xé gió rồi mất hút. Má nhìn vô nhà, thấy người nằm kín sân kín lối mà lòng lại chợt hẫng một cái. Hổng phải hẫng vì buồn. Hẫng vì sợ.
Má đâu có sợ ở một mình. Má ở một mình quen mút mùa lệ thủy rồi. Từ ngày ba nó đi, nhà này vẫn vậy thôi. Sáng mở cửa, quét sân, cắm nồi cơm điện ăn mình ên, chiều ra tưới mấy chậu vạn thọ, tối bật tivi lên cho có tiếng người vô ra. Thứ má sợ hổng phải là sự cô quạnh.
Má sợ cái cảnh…
Sợ cái cảnh đông đúc quá chừng rồi ít bữa nữa nhà cửa lại trống huơ trống hoác. Sợ cái cảm giác lỡ quen với tiếng chân chạy thình thịch, quen với tiếng kêu “Má ơi!” vang từ ngoài ngõ, quen cái thói sáng ra nghe đứa này đứa kia lục đục pha trà cà phê… rồi tới lúc mấy âm thanh đó tắt cái rụp, trong nhà chỉ còn tiếng đồng hồ gõ nhịp tích tắc nghe rõ mồn một.
Người ta hổng sợ cô đơn. Người ta sợ cái cảm giác “có rồi lại mất”.
Mà mất ở đây đâu phải là chết chóc gì. Mất vì tụi nó phải đi. Tới đoạn tụi nó phải rời cái nhà này để lo cho cái phần đời riêng của mình. Đi làm, đi học, đi trả nợ đời. Tụi nó đi rồi mình vẫn sống đó thôi, nhưng mình phải tập lủi thủi với cái khoảng trống mênh mông mà tụi nó để lại.
Tết kéo dài cả tuần mà sao má thấy nó ngắn ngủn. Có lúc má đang cười móm mém gắp miếng thịt cho thằng cháu, tự dưng trong đầu xẹt ngang một ý nghĩ: “Bữa nào tụi nó đi hết trơn đây?”
Rồi cái ngày đó cũng tới.
Mùng sáu, con Hai nói: “Con lên trước nghen má, bữa nào rảnh con lại về.” Nó nói y chang cái câu năm nào cũng nói. Vừa nói tay nó vừa lẹ làng nhét quần áo vô túi xách, mắt thì liếc cái điện thoại coi chừng giờ xe chạy. Thằng rể đứng ngoài sân, xách khệ nệ mấy cái vali, mắt cứ nhìn ra ngõ. Mấy đứa nhỏ thì còn lo nhai bánh in, nghịch đất, tụi nó có biết cái nỗi lòng người già là cái giống gì đâu.
Má đứng trong bếp, tay đang rửa đống chén dĩa mà nghe lòng chùng ngang. Má “ừ” một tiếng nhẹ hều: “Ừ, đi mạnh giỏi nha con.” Má không nói câu “ở lại thêm mấy bữa”. Má chưa từng mở miệng giữ. Giữ làm chi cho tụi nó nặng lòng thêm. Má thương con, thương cháu nên Má chọn cách học tiễn đưa. Nhưng học thì học vậy, chớ làm sao mà hổng đau cho được.
Ngày con Hai đi, cái ghế trong mâm cơm chiều đó tự dưng trống lốc. Mới hồi trưa đây cái ghế đó còn có người ngồi, còn có tiếng cười nói rôm rả. Giờ nó trơ trọi ra đó làm má cứ ngó hoài. Ngó rồi má mới thấm: có những chỗ trống trong đời hổng phải vì thiếu đồ đạc, mà vì thiếu một bóng hình.
Mùng tám, tới lượt thằng Út. Nó làm tận Sài Gòn, nghỉ được bấy nhiêu ngày là hết cỡ. Nó ngồi thủ thỉ với má một hồi rồi đứng dậy. Ra tới cửa, nó quay đầu lại dặn: “Má ở nhà nhớ ăn uống đầy đủ, đừng có nhịn nghen má.”
Má cười hiền: “Tao còn mạnh giỏi chán, mày lo thân mày đi.”
Thằng Út cười theo. Cười xong, nó cúi xuống cột lại dây giày. Cái động tác nhỏ xíu đó mà má thấy như có ai thắt ngang cổ họng mình. Má biết, nó cột dây giày xong là nó đi biệt tăm. Nó đi rồi, cái buồng trong nhà lại dư ra một khoảng mênh mông.
Mùng mười, tới lượt gia đình thằng Ba. Nhà vơi dần, y như cái nồi nước đang sôi sùng sục mà ai đó lẳng lặng tắt lửa, tiếng sủi tăm nhỏ dần rồi im bặt. Bữa cuối cùng trước khi tụi nó lên xe, sân nhà còn lổm ngổm dép. Mấy phút sau, sân thưa dần. Một hồi nữa, sân sạch bách. Cái sân bỗng dưng rộng quá xá, rộng tới mức nhìn vô thấy mắc cỡ, như thể mình vừa bày một bữa tiệc linh đình rồi giờ dọn sạch, chỉ còn cái nền gạch trơ trọi.
Má đứng trước cửa, nhìn theo cái bóng xe khuất sau hàng dừa xanh ngắt. Má hổng khóc, chỉ đứng yên, tay vịn hờ vô cánh cửa gỗ cũ kỹ.
Cái cửa này, trước Tết mở suốt ngày đêm. Sau Tết, má khép hờ lại. Khép để gió đừng thổi tro bếp bay vô nhà, để bụi đường đừng đóng vô mâm cơm, để con mèo mướp khỏi chạy tót ra lộ.
Nhưng má hổng có gài then. Má hổng khóa, vì nhà này vốn là cái bến để quay về. Mà muốn về thì cửa phải luôn mở sẵn. Tình thân, nhiều khi hổng phải là giữ người lại bên mình, mà là giữ cho cái cửa luôn rộng mở.
Mấy ngày sau Tết, má sống y chang hồi trước. Sáng mở cửa, quét sân, nấu cơm. Nhưng cái sự “y chang” đó nó lạ lắm. Nó giống như mình mặc lại cái áo bà ba cũ sau khi vừa được diện cái áo mới tinh. Áo cũ vẫn vừa vặn, vẫn thân thuộc, mà sao nghe nó lạnh lẽo hơn một chút.
Tuần đầu, má vẫn theo thói quen nấu dư một mớ cơm. Nấu xong bới ra chén, ngồi ngó chén cơm thêm một hồi lâu thiệt lâu, rồi má mới đem đổ cho mấy con gà sau nhà. Đổ xong, má đứng lặng đi, như đang thầm xin lỗi chén cơm trắng tinh khôi.
Cái phòng của mấy đứa cháu má vẫn để y thinh vậy. Cái mền xếp lại còn để ngay ngắn trên giường, con gấu bông nằm chỏng chơ trên gối. Má đi ngang, liếc vô một cái rồi bước lẹ qua, hổng dám nhìn lâu.
Có bữa tối, má mở tivi thiệt lớn, lớn hơn mọi khi. Hổng phải má ghiền coi đâu, chỉ tại cái nhà nó yên quá. Yên tới mức nghe rõ tiếng muỗi vo ve bên tai, nghe tiếng gió lùa qua kẽ tôn xào xạc. Nghe cả tiếng đồng hồ gõ “cộc, cộc” như ai đang gõ nhẹ vô lồng ngực mình.
Qua tới tuần thứ hai, má mới bắt đầu xếp mền gối lại. Má hổng dám mạnh tay, cứ chậm rãi, nhẹ nhàng, sợ cái mùi sữa, mùi con nít còn vương trên đó nó bay mất tiêu. Má xếp xong, cất vô tủ, nghe tiếng “cạch” lúc đóng cửa tủ mà thấy nó dứt khoát như một dấu chấm hết.
Nhưng cái dấu chấm nào mà chẳng có phần sau của nó.
Một tháng sau, má bưng mấy chậu lan, mấy chậu vạn thọ còn sót lại vô cái phòng trống đó. Má tự nhủ: “Để đây cho nó có hơi người.” Má hổng nói “hơi cháu”, má nói “hơi người” vì má biết, cái sự thiếu vắng này hổng phải của riêng ai, nó là cái lẽ thường tình ở đời. Con người ta ai rồi cũng phải tập làm bạn với sự trống trải. Hổng phải để quên đi, mà để có sức mà sống tiếp.
Trên Sài Gòn, thằng út vừa đi làm lại là đầu tắt mặt tối với công việc. Cả ngày nó chạy đôn chạy đáo, họp hành, khách hàng réo liên miên. Tối về tới phòng trọ, nó nằm phịch xuống giường, nhìn cái ba lô còn y nguyên từ lúc ở quê lên. Nó chợt nhớ cái sân nhà má, nhớ cái bếp củi mịt mù khói, nhớ cái dáng má lụi cụi rửa chén sau hè.
Nó bấm bụng gọi về. Má bắt máy lẹ làng, như thể má đang ngồi canh sẵn bên cái điện thoại.
Má hỏi liền: “Lên tới trên đó chưa con?”
Nó ừ một tiếng, rồi hỏi ngược lại: “Má ăn cơm nước gì chưa?”
Má cười: “Tao ăn rồi.”
Hai mẹ con im lặng một hồi. Nó muốn nói cái gì đó dài hơn, thiết tha hơn mà hổng biết bắt đầu từ đâu. Ở Sài Gòn đông người lắm, nó hổng có cô đơn, nhưng tự dưng nó thấy sợ một thứ kỳ cục lắm.
Nó sợ một năm nào đó, nó về mà hổng còn ai đứng đó chờ để hỏi: “Lên tới chưa con?”
Nỗi sợ của người trẻ đôi khi cũng hổng phải là sợ cô quạnh, mà là sợ mất đi một người mình đã quá đỗi thân quen. Hổng phải mất vì họ rời bỏ mình, mà mất vì thời gian đã dắt họ đi khỏi cuộc đời mình.
Nó định hứa: “Năm sau con về chơi lâu hơn nghen Má.” nhưng rồi nó nuốt ngược lời đó vô trong. Nó sợ lời hứa đó chỉ là để vỗ về cái sự áy náy của mình. Nó nói thiệt lòng hơn: “Má nhớ giữ gìn sức khỏe đó.”
Má cười: “Ừ, tao biết rồi, bây cũng vậy nha.”
Cúp máy, má ngồi thừ ra một lúc. Má hổng còn thấy buồn nẫu ruột như mấy ngày đầu nữa. Má bắt đầu ngộ ra cái cách mà cuộc đời này vận hành. Đời người y như con nước vậy. Nước lớn thì bến xôm, nước ròng thì bến vắng. Mình đứng ở bến lâu ngày, mình phải quen thôi. Quen hổng phải vì mình gan lì, mà vì mình hổng còn lựa chọn nào khác.
Chiều đó, má pha bình trà bưng ra hiên ngồi. Má ngồi đúng cái chỗ Tết rồi má ngồi. Gió sông thổi lên hây hây hổng còn lạnh nữa, chỉ thấy nó hơi lạt lẽo. Má nhìn ra lộ, thấy bụi bay mờ mịt, thấy vài người chạy xe hối hả qua lại. Má nghĩ bụng: Tết năm nào hình như cũng ngắn hơn năm trước.
Hổng phải vì ngày xuân nó ít đi, mà vì mình đã hiểu đời. Hiểu rằng thời gian hổng có chờ đợi ai bao giờ. Hiểu rằng người ta về được một lần là mình có thêm một lần để mà thương, mà nhớ. Hiểu rằng cái sự gắn bó với ai đó nó “nguy hiểm” lắm, vì nó làm mình tưởng sự hiện diện của họ là chuyện đương nhiên. Để rồi tới khi họ đi, mình mới giật mình biết cái “đương nhiên” đó là thứ mỏng manh nhứt trên đời.
Má nhìn vô nhà. Nhà yên thinh nhưng hổng còn thấy lạnh lẽo như hồi mới tiễn tụi nhỏ đi. Má đứng dậy, bước tới cánh cửa, đẩy nó mở rộng thêm một chút cho gió vô. Má mở cửa hổng phải để chờ ai bước vô ngay lập tức. Má mở cửa là để giữ cái nếp nhà: rằng nơi này luôn có một lối quay về.
Rồi Má quay vô bếp, bắc ấm nước sôi. Má tự nhủ, giọng bình thản tới mức chính má cũng thấy lạ lẫm: Ai cũng có cái phần đời phải đi. Còn mình, mình có cái phần đời ở lại. Ở lại hổng phải để chịu đựng gian khổ gì, ở lại là để giữ. Giữ cái nhà, giữ cái cửa, giữ một chỗ dựa cho tụi nó, để lúc nào mỏi chân chùn gối, tụi nó còn biết đường mà tìm về.
Bùi Vĩnh Thế
Giới thiệu về Dự Án Nam Bộ Chợ Lạc Xoong xem tại đây