Sài Gòn có những con hẻm mà nếu sống đủ lâu đến nỗi người ta không còn nhớ mình dọn tới hồi nào. Chỉ nhớ là sáng mở cửa ra thì hẻm đã ở đó, chiều khép cửa lại hẻm vẫn còn nguyên, y chang một người quen đứng chờ sẵn, không hỏi han, không trách móc.
Con hẻm ông Năm ở là một con hẻm như vậy, ngoằn ngoèo, chật hẹp, vừa đủ cho hai chiếc xe máy né nhau trong im lặng. Tường nhà dựa sát tường nhà, những mảng sơn cũ bong ra, lộ lớp xi măng xám xịt như ký ức lâu ngày không ai chạm tới. Trên cao, dây điện chằng chịt vắt ngang bầu trời thành phố, giống những nét bút viết lở dở một câu chuyện không ai buồn sửa lại cho ngay hàng thẳng lối.
Buổi sáng, hẻm thức dậy bằng tiếng chổi quét rác kéo lê, tiếng xe bánh mì lộc cộc, tiếng ai đó ho khan sau cánh cửa sắt kéo lên nửa chừng, thức dậy bằng mùi cà phê phin thơm thoang thoảng đủ để biết ngày mới bắt đầu. Ông Năm sống ở đây lâu tới mức người ta quen mặt thấy ông ngồi trước cửa mỗi sáng, trên cái ghế nhựa lùn, hai tay đặt ngay ngắn trên đùi, nhìn con hẻm như nhìn một cuốn phim chiếu chậm, không cần cao trào, cứ vậy mà trôi đều đều.
Căn phòng trọ của ông nằm ở khúc giữa hẻm, cửa gỗ cũ kỹ, bản lề lâu ngày kêu rít nhẹ mỗi lần mở. Trong phòng không có gì nhiều, gọn gàng tới mức giống như người ta đã chuẩn bị sẵn cho việc rời đi từ lâu lắm rồi mà chưa tới lượt. Cái giường sắt thấp, tấm nệm mỏng lún một chỗ ở giữa, cái quạt đứng quay chậm, tiếng cánh quạt phành phạch đều đều như nhịp thở của một người đã quen sống một mình. Trên cái bàn nhỏ, ngoài cái ly sứt miệng và cái ấm nước, không có vật gì mang tính trang trí. Trên tường không treo hình, không phải vì ông không có hình để treo mà vì có những thứ treo lên rồi, mỗi lần nhìn thấy lại giống như tự tay khứa một vết thương ra giữa phòng, để nó nằm đó, không chịu lành.
Ngày ông biết mình chỉ còn sống chừng sáu bảy tháng, mọi thứ diễn ra rất bình thường.
Bác sĩ nói giọng đều đều, dùng nhiều chữ chuyên môn, cuối câu là một khoảng im lặng ngắn, giống như người ta đặt một vật xuống bàn rồi chờ người đối diện tự nhìn thấy. Ông ngồi nghe, đầu gật nhẹ theo thói quen, không hỏi han thêm gì. Ra khỏi bệnh viện, ông đứng trước cổng một lúc, nhìn người ta ra vô, nhìn mấy chiếc xe cấp cứu chạy ngang hú còi rồi tắt, đời sống tiếp tục như chưa có chuyện gì vừa xảy ra. Ông không sốc, cũng không thấy sợ liền. Cảm giác đầu tiên là lạ, lạ như khi nghe ai đó đọc sai tên mình, không giận, chỉ thấy không quen. Ông gấp tờ giấy kết quả lại thiệt gọn, bỏ vô túi áo, rồi về hẻm như mọi ngày.
Những tuần đầu, ông sống y như cũ. Sáng ra ngồi trước cửa, trưa ăn qua loa, chiều chợp mắt một chút, tối nghe tivi nhà ai đó mở chương trình quen thuộc. Ông không nói với ai, không phải vì muốn giấu mà vì chưa biết gọi cái tin đó là gì cho đúng. Gọi là bệnh thì nghe nặng quá, gọi là sắp chết thì ông thấy miệng mình chưa quen nói. Cái tin đó nằm trong người ông như một hòn đá bỏ túi, mang theo suốt ngày, không lấy ra cho ai coi nhưng chạm tay vô là biết nó vẫn còn đó. Rồi từ từ, cơ thể bắt đầu nhắc ông nhớ. Ông mệt nhanh hơn, đi vài bước đã phải đứng lại. Ho nhiều hơn, ho xong thấy trong ngực như có ai kéo ngược một sợi dây. Có bữa đang ngồi trước cửa, ông phải đứng dậy vô nhà chỉ để thở cho qua cơn. Những lúc đó ông mới bắt đầu nghĩ tới chuyện sắp xếp.
Sắp xếp của ông Năm không giống sắp xếp của người còn đông đủ gia đình. Không có chuyện viết di chúc dài dòng, không có chuyện dặn dò ai phải sống sao. Ông chỉ làm những việc rất nhỏ, rất lặng lẽ. Ông lấy từng cái áo ra coi lại, cái nào đã sờn cổ thì xếp riêng, cái nào còn lành thì giặt lại, phơi cẩn thận, phơi ngay hàng thẳng lối. Có bữa trời nắng gắt, ông đứng nhìn mấy cái áo bay nhẹ trên dây lâu hơn mọi ngày, tự nhiên nghĩ đời mình cũng giống vậy, treo lên một đoạn rồi gió thổi, tới lúc hạ xuống thì không còn ai mặc nữa. Ông xếp lại giấy tờ, giấy khai sinh, căn cước cũ, mấy cái hóa đơn điện nước còn sót lại từ hồi ở căn nhà cũ, ông giữ hết, bỏ vô một cái bìa hồ sơ màu xanh đã bạc, bên ngoài viết bằng bút bi: “Giấy tờ của tui”. Chữ viết chậm, nắn nót, như sợ chữ nghiêng đi thì đời mình cũng nghiêng theo. Ông đặt cái bìa đó lên trên cùng của kệ nhựa, chỗ dễ thấy nhất như sợ tới lúc mình không còn nói được, người khác phải lục lọi, mà ông thì ghét nhất là làm người ta cực.
Cái ly sứt miệng ông dùng mỗi ngày, ông rửa kỹ, lau khô, đặt lại đúng chỗ. Cái ghế nhựa trước cửa, ông chùi sạch, coi lại coi có bị gãy chân nào không. Cái quạt đứng, ông tra dầu cho quay êm hơn, như thể nó còn phải ở lại với ai đó sau khi ông đi. Có những buổi chiều, ông ngồi trước mấy món đồ nhỏ không biết nên bỏ hay giữ, một cái hộp quẹt cũ, một cây viết hết mực, một cuốn sổ nhỏ chỉ ghi vài dòng lặt vặt. Ông cầm lên, đặt xuống, rồi xếp hết vô một cái túi nylon trong suốt, cột miệng túi lại để gọn trong góc. Không phải vì tiếc mà vì ông không biết ai sẽ hiểu mấy thứ đó có ý nghĩa gì, nên thôi, gom lại cho nó khỏi tản mác.
Trong suốt quãng đời đó, có một nỗi đau ông không bao giờ sắp xếp được dù đã cố né rất lâu. Vợ con ông qua Mỹ sau ly dị không bao lâu. Ngày tiễn ra sân bay, ông đứng phía ngoài hàng rào, không được vô sâu. Con ông được ẳm trên tay người khác, mắt nhìn quanh, lạ lẫm, không khóc. Ông nhìn con mà không dám gọi lớn, sợ tiếng mình lạc giữa đám đông, sợ con quay đầu lại rồi không nhận ra mình. Ông chỉ đứng đó, hai tay đút túi quần, bóp chặt tới mức móng tay hằn lên da. Khi họ quay lưng đi, dáng con nhỏ dần, nhỏ dần, giống một chấm sáng xa dần trong hành lang dài, còn ông thì đứng yên như bị ai giữ lại.
Ông nghĩ rồi sẽ có thư, có điện thoại, có địa chỉ mới; nhưng thời gian trôi, tin tức thưa dần rồi mất hẳn. Cái đau của ông không phải là bị bỏ rơi, mà là không được chứng kiến con lớn. Mấy chục năm rồi nhưng ký ức về con của ông dừng lại ở một đứa trẻ nhỏ xíu, mùi sữa, mùi phấn rôm, tiếng thở đều khi ngủ. Phần đời sau đó của con giống như một cuốn sách bị xé mất mấy chương cuối, ông cầm trên tay mà không biết nên lật tiếp hay khép lại.
Những tháng cuối, ký ức đó trở về nhiều hơn, không ồn ào, không dữ dội mà dai dẳng.
Ông nhớ con trong những chi tiết thiệt nhỏ: khi thấy một đứa trẻ trong hẻm được ba dắt tay đi học, khi nghe ai đó gọi “Ba ơi!” ngoài đầu hẻm, khi nhìn mấy cái áo trẻ con phơi trước nhà người ta, nhỏ xíu, bay nhẹ trong gió. Mỗi lần vậy, ông lại quay mặt đi một chút, không phải vì ghen tị, mà vì sợ ánh mắt mình dừng lại lâu quá sẽ lộ ra một cái gì đó không nên. Có những đêm ông không ngủ được, ông ngồi trên giường, tay đặt trước ngực, tưởng tượng nếu lúc này con ở đây, ông sẽ ôm con ra sao. Ôm chặt hay ôm nhẹ, ôm lâu hay chỉ một chút. Cái đau xoáy nhất là ông không có cơ hội để thử bất cứ cách nào. Cái ôm đó đời ông không bao giờ có được.
Có một buổi chiều, ông tìm lại được một tấm hình cũ, hình con lúc mới đẻ nằm trên tay ông. Tấm hình đã ngả màu, góc bị gãy. Ông cầm lên, nhìn thiệt lâu tới khi mắt cay xè mà không nhỏ nước mắt. Ông không đem tấm hình đó ra treo, ông cũng không bỏ. Ông gói nó lại bằng một tờ giấy trắng, gấp kỹ, bỏ vô ngăn kéo trong cùng như cất một thứ rất dễ bể.
Đêm đó, ông mơ thấy mình đứng giữa một sân bay rộng thênh thang, bảng điện tử chạy chữ liên tục mà ông không đọc được dòng nào. Ở xa xa, có một người trẻ quay lưng lại, dáng quen mà lạ. Ông muốn gọi nhưng cổ họng như bị ai bóp chặt, ông bước lên một bước, người kia bước đi hai bước. Khoảng cách không xa nhưng không cách nào thu hẹp được.
Rồi ông bắt đầu chấp nhận, không phải bằng lời, mà bằng cách sống chậm lại.
Ông ngủ khi buồn ngủ, ăn khi thấy đói, ngồi khi thấy mệt. Mỗi sáng ra ngồi trước cửa, ông nhìn hẻm kỹ hơn, như sợ bỏ sót cái gì. Nhìn từng viên gạch, từng vết nứt, từng sợi dây điện. Có những thứ ông đã nhìn suốt mấy chục năm, bây giờ mới thấy rõ. Ông đem bớt đồ cho hàng xóm, cái xoong nhôm cho bà Bảy, cái quạt cũ cho cái nhà 2 vợ chồng nghèo cuối hẻm. Không ai hỏi tại sao, người hẻm này nhận đồ cũng gọn hơ, nhận rồi thôi. Ông thấy nhẹ lòng từng chút, giống như gió trong phòng cũng thoáng hơn.
Sáng hôm đó, ông dậy sớm hơn mọi ngày, Sài Gòn cũng dậy sớm. Xe bánh mì đẩy ngang, tiếng rao kéo dài mà chữ nghĩa tan ra trong gió. Mùi cà phê phin bay tới, loãng mà ấm. Nắng còn lúng túng rớt từng mảng nhỏ xuống con hẻm. Ông mở cửa thiệt nhẹ theo thói quen cũ rồi ngồi xuống cái ghế nhựa trước cửa. Nền xi măng mát lạnh, ông đặt hai chân ngay ngắn, hai tay trên đùi. Lưng ông thẳng hơn thường lệ như người đã chờ xong một chuyến xe trễ. Ông nhìn con hẻm thiệt lâu, trong đầu ông lần này không phải là hình ảnh, mà là cảm giác – cảm giác được ôm một thân người nhỏ vào ngực, nghe một nhịp thở khác hòa vào nhịp thở của mình. Ông nhắm mắt lại, tưởng tượng cái ôm đó, chỉ một lần thôi.
Ông thở ra một hơi dài, nhẹ bẫng, lồng ngực ông không vội hít vào nữa.
Buổi sáng vẫn tiếp tục, tiếng chổi quét rác vẫn kéo lê, tiếng xe vẫn chạy, một Sài Gòn vẫn sống, chỉ có một chỗ trống nhỏ trước cửa một căn phòng trọ như một viên gạch vừa được nhấc đi, để lại một khoảng hở không ai lấp được.
Một lát sau, bà Bảy đi ngang, thấy cửa mở, bả thấy ông ngồi yên. Bả đứng lại, không gọi. Bả bước vô khép cửa cho gió khỏi lùa, đặt cái ly nước cho ngay ngắn, kéo cái ghế lại sát tường. Ngoài hẻm, người ta đi ngang chậm lại một vài nhịp… rồi đi tiếp. Không ai làm ồn, không ai khóc lớn, người ta chỉ nói với nhau một câu thiệt nhẹ như nói về một buổi sáng bình thường: “Ổng đi êm quá”. Êm như cái cách ổng sống cả đời, lặng lẽ sắp xếp mọi thứ cho người khác đỡ cực, mang theo một nỗi đau không ai thấy, không ai gỡ giùm, tới lúc buông ra thì nhẹ hẫng, như một người cuối cùng cũng được đặt xuống một cái gì đó đã ôm quá lâu mà không ai hay.
Có thể ở đâu đó, ông đã được ôm con vào lòng.
Sài Gòn, 16 tháng 07 năm 2023
Bùi Vĩnh Thế
Giới thiệu về Dự Án Nam Bộ Chợ Lạc Xoong xem tại đây