14/03/2026

CÓ SAO ĐÂU NẾU ĐỜI KHÔNG RỰC RỠ

Dưới mé lộ, chỗ con đường nhựa vừa hết láng là bắt đầu lổn ngổn đá xanh, có cái quán cà phê cóc nhỏ xíu nép dưới gốc bàng già. Quán dựng bằng mấy tấm tôn cũ, cột chống xiêu xiêu, phía trước kê chừng năm ba cái bàn thấp, mấy cái ghế nhựa lùn lùn, cái nào cái nấy phơi mưa phơi nắng riết bạc màu.

Người ta gọi là quán cà phê của ông Ba Lành, chớ thiệt ra nó không hẳn là quán, cũng không hẳn là nhà. Nó giống một chỗ để bà con trong xóm ghé vô trú nắng tránh mưa, ngồi kể lể chuyện đời, rồi tiện tay húp miếng cà phê đen đặc quánh, đắng ngắt mà thơm lừng.

Phía trước quán là con rạch nhỏ. Nước quanh năm không lớn, cứ lững lờ như người già đi đứng chậm chạp. Bên kia rạch là hàng dừa nước rì rào, chiều nào gió lên cũng nghe như có ai ngồi trong đám lá thở dài.

Ông Ba Lành năm nay ngoài sáu chục, người mỏng dính, nước da sạm đen như miếng đất phơi nắng lâu ngày. Ổng ít nói, cười cũng nhẹ hều, môi chỉ nhích lên chút đỉnh rồi thôi. Cả đời ổng không đi đâu xa khỏi cái xóm này. Hồi trẻ đi phụ ghe, làm mướn, vá lưới. Về sau lưng đau, chưn mỏi, ổng dựng cái quán cà phê cóc ngay đầu xóm, bán cầm chừng. Ai có tiền thì trả, không có thì ghi sổ. Ghi riết thành cuốn sổ dày cộm, mà mấy trang trả được chỉ mỏng như lá lúa. Có bữa người ta hỏi sao không đòi, ổng cười: “Đói bụng mới thiếu chớ ai ham thiếu nợ đâu.”

Con trai ổng, thằng Phúc, đi làm trên Sài Gòn, lâu lâu mới về. Mỗi lần về là nó lại thấy quán cà phê của cha vẫn y chang hồi mười năm trước. Cái bếp than đen thui, cái phin nhôm móp méo, cái radio cũ rè rè phát mấy bài vọng cổ nghe như từ một đời nào vọng qua. Nó nhìn quanh quất rồi thở ra, giọng nửa trách nửa thương: “Sao đời ba cứ bình bình hoài vậy ba? Người ta bằng tuổi ba giờ nhà lầu, xe hơi, vườn tược đàng hoàng. Còn nhà mình cứ ngồi đây bán từng ly cà phê năm bảy ngàn.”

Ông Ba đang tráng phin, nghe vậy cũng không ngước lên. Ổng lấy muỗng nén cà phê xuống, rót nước sôi vô, hơi nóng bốc lên mù mịt. Một lát ổng mới nói: “Ờ, thì đời tao nó vậy.”
Nghe xong thằng Phúc bực. Nó thấy cái kiểu trả lời đó như cục bông gòn nhúng nước, quăng đâu cũng không kêu. Nó thương cha, mà cái thương của nó giống sợi dây nilon cột chặt quá, thành ra đau. Nó muốn cha mình phải hơn, phải có cái gì đó để hãnh diện với người ta. Chớ ai đời đi giới thiệu cha mình là ông già bán cà phê cóc đầu xóm, quần xắn ngang hông, ngày ngày ngồi ngó con rạch đổi màu.

Nhưng ông Ba không thấy có gì phải mắc cỡ. Buổi sáng ổng dậy từ khi trời còn mờ hơi sương, lụi hụi nhóm bếp, đun nước, lau bàn. Cỡ sáu giờ là mấy chú chạy ghe, mấy người đi chợ sớm, mấy ông già thức trước gà đã lục tục ghé. Họ ngồi đó, hút thuốc rê, nhấp cà phê, kể chuyện lúa năm nay trúng hay thất, con nhỏ nhà ai mới đi Bình Dương, thằng nào mới bỏ vợ, bà nào đau khớp trở trời. Chuyện gì vô tới quán ông Ba rồi cũng lắng xuống bớt, như cục đất quăng xuống nước, khuấy lên một hồi rồi cũng chìm.

Trong số khách quen của quán có ba người bằng tuổi nhau, hồi nhỏ học chung một lớp ở trường xã. Sau này mỗi đứa trôi một ngả. Người ta hay nói số phận con người cũng giống mấy cọng lục bình ngoài sông, nước đẩy tới đâu thì trôi tới đó, có cọng tấp vô bờ bùn, có cọng mắc trên lưới, có cọng trôi tuốt ra sông lớn mất tiêu.

Người thứ nhứt là Minh, Minh đi học giỏi, lớn lên ra tỉnh làm rồi lên thành phố. Giờ nghe đâu làm giám đốc chi đó, áo quần thơm tho, xe cộ bóng lưỡng, nói chuyện điện thoại suốt ngày. Mỗi lần về quê, Minh ghé quán ông Ba là cả đám trong xóm nhìn theo. Không phải vì nể, mà tại ở quê ít khi thấy ai ăn nói gấp gáp như có ai dí sau lưng. Minh ngồi chưa ấm chỗ là điện thoại reo. Minh vừa nhấp cà phê vừa trả lời, lúc thì “deal”, lúc thì “target”, lúc thì “áp lực”, “deadline”, nghe như tiếng chim gì lạ hoắc bay lạc vô xóm.

Người thứ nhì là Hòa. Hòa làm nhân viên ở thị trấn, lương tháng đủ sống, có vợ, hai đứa con, căn nhà xây nửa gạch nửa tôn. Đời Hòa không thiếu mà cũng hổng dư. Bữa nào con bệnh, vợ đau, xe hư, tiền học đóng một lượt là mặt Hòa xám như tro bếp. Hòa hay ghé quán buổi chiều, ngồi bóp trán than mệt. Than vậy chớ sáng mai vẫn lóp ngóp dậy đi làm như thường.

Người thứ ba là thằng Lợi, hồi nhỏ ốm nhom, học chưa hết cấp hai đã nghỉ. Nó ở nhà đào ao nuôi cá, trồng thêm mấy liếp rau, rảnh thì thả lưới ngoài rạch. Tiền bạc không có bao nhiêu, quần áo lúc nào cũng dính bùn, nhưng ít ai thấy nó nhăn nhó. Có bữa lỗ một mẻ cá, nó cũng chỉ gãi đầu cười: “Thì cá nó chết, chớ mình đâu chết theo.”

Một chiều tháng chạp, trời bảng lảng như ai hòa tro vô nắng, ba người đó tình cờ ngồi chung ở quán ông Ba. Câu chuyện ban đầu chỉ là hỏi thăm qua loa, rồi không hiểu sao kéo tuốt tới chuyện đời, chuyện hạnh phúc.

Minh nói mình sắp mua thêm đất trên thành phố. Giọng Minh có vẻ tự hào, mà mắt thì trũng sâu, quầng đen như mới mất ngủ cả tháng. Hòa hỏi: “Vậy là khỏe rồi hen.” Minh cười méo xẹo: “Khỏe gì. Một ngày mấy chục cuộc gọi. Đêm đang ngủ cũng giật mình vì tin nhắn. Có bữa ngồi ăn với vợ con mà trong đầu còn nghĩ tới báo cáo.”

Hòa nghe, thở ra: “Tao thì chỉ mong đủ tiền cho tụi nhỏ học hành tới nơi tới chốn. Không cần gì hơn.” Nói xong Hòa nhìn xuống đôi dép nhựa mòn gót, vẻ mặt rầu rầu. Còn Lợi thì đang cắn hột đậu phộng rang, nghe hai người kia nói hồi lâu mới chậm rãi chen vô: “Tao thì sáng cho cá ăn, trưa nằm võng, chiều tắm sông. Bữa nào có cá nhiều thì bán, cá ít thì ăn. Đêm ngủ ngon là được.” Minh bật cười, cười kiểu nửa chọc nửa thiệt: “Ờ, mày không có chí lớn.”

Lợi không giận, chỉ nói: “Tao đâu có cần lớn. Tao cần vừa.”
Câu đó làm cả bàn im. Gió từ ngoài rạch thổi vô, làm cái khăn lau bàn treo ở góc quán đong đưa. Ông Ba đang cặm cụi châm nước sôi, bỗng nói, giọng nhẹ tênh như thể nói với cái phin cà phê: “Mỗi người một cái bụng. Bụng chứa tới đâu thì hạnh phúc tới đó. Ép quá nó bể.”

Minh nghe xong không nói gì nữa. Nó quay mặt ra con rạch. Mặt nước xao nhẹ, phản chiếu một bầu trời xám nhợt. Không biết nó nhìn thấy gì trong đó, chỉ thấy lâu lâu nó thở dài, như người đứng giữa chợ đông mà chợt nghe cô độc quá chừng.

Ngoài ba người đó, quán ông Ba còn có một khách quen khác là ông Sáu Tòng. Hồi trước, cái tên Sáu Tòng vang như sấm trong vùng. Ổng từng làm chủ lò sấy lúa, có đất, có ghe tải, có người làm vô ra nườm nượp. Đám nhỏ đi ngang nhà ổng hồi đó cũng phải ngó qua hàng rào sắt, thấy mấy chậu kiểng, thấy chiếc xe hơi đậu dưới mái hiên mà trầm trồ. Người lớn thì nói chuyện với ổng bằng giọng nhỏ hơn một chút, kiêng nể hơn một chút. Tiền bạc đúng là thứ làm lưng người ta tự nhiên cong xuống.

Rồi mấy năm sau, lò sấy cháy, làm ăn thua lỗ, nợ nần chồng chất. Đất bán dần, xe đi mất, người làm tản hết. Bây giờ ông Sáu ở trong căn nhà cấp bốn tuềnh toàng sau vườn chuối, sáng nào cũng đi bộ ra quán ông Ba, ngồi đúng cái ghế sát mép rạch, gọi một ly đen không đường.

Có bữa, một người khách lạ từ trên tỉnh xuống, ăn mặc sang trọng, vừa thấy ông Sáu đã mừng quýnh. Hóa ra là thằng nhỏ ngày trước từng làm công cho ổng, giờ lên làm ăn lớn. Nó kéo ghế ngồi sát bên, hỏi han đủ điều, rồi ngập ngừng: “Anh Sáu… anh có tiếc hồi xưa không?”

Quán lúc đó đang đông, mà nghe câu đó tự nhiên thấy yên như ai vừa rút hết tiếng động đi. Ông Sáu nhấp miếng cà phê, ngẫm nghĩ một hồi lâu. Mắt ổng đục, nhưng không buồn dữ dằn như người ta tưởng. Ổng nói: “Tiếc chớ. Ai mất mà không tiếc nhưng hồi trước người ta nể tao vì tao có tiền. Giờ mấy đứa còn ghé kiếm tao vì nhớ. Tính ra, cái còn lại mới là cái thiệt.”

Nói xong, ổng cười. Nụ cười già nua, chậm rãi, như trái mù u rụng xuống sân, không kêu lớn mà nghe thấm. Người kia ngồi im, mắt đỏ hoe. Có lẽ lần đầu nó hiểu ra, đời người ta leo được cao tới đâu chưa chắc đáng kể bằng lúc té xuống còn ai đứng bên.
Mà đâu phải ai sanh ra cũng để trèo cao.

Bà Năm Bếp trong xóm là một người như vậy. Cả đời bà quanh quẩn trong cái bếp ăn trường tiểu học. Sáng nào cũng đội cái nón lá bạc màu, xách giỏ đi chợ từ tinh mơ, mua cá, mua rau, mua mớ xương về nấu canh. Mồ hôi bà đổ xuống từng nồi cơm, từng chảo trứng, từng nồi thịt kho. Người nhỏ con, lưng còng còng, tay lúc nào cũng thơm mùi hành phi với khói bếp. Bà không chồng, cũng chẳng con. Ở một mình trong căn nhà lá cũ, chiều về quét sân, tưới mấy bụi bông trang rồi ngủ sớm.

Người ta nhìn vô đời bà, thấy nó phẳng quá, lặng quá, tưởng chắc buồn lắm nhưng bà Năm ít khi than. Có lần ngồi quán ông Ba, bà chỉ nói một câu: “Ngày nào tụi nhỏ ăn hết nồi cơm là tui vui rồi.”
Tới ngày bà nghỉ, trường làm buổi chia tay. Quán ông Ba bữa đó đông hơn thường. Người ở xa, gần kéo về. Có đứa hồi trước ốm tong teo, giờ thành bác sĩ. Có đứa từng chưn đất đi học, giờ làm kỹ sư tận ngoài Phú Quốc. Có cô giáo trẻ trước kia là học trò nghèo của bà, nay dắt con tới chào. Ai cũng nhắc một món bà nấu. Người thì nhớ nồi canh chua bông súng. Người thì nhớ mấy bữa mưa bà lén chia thêm cho một muỗng thịt kho. Người thì nói hồi đó nhà nghèo quá, nhiều khi chỉ trông tới bữa cơm ở trường.

Bà Năm ngồi nghe, khóc. Nước mắt chảy trên gương mặt nhăn nheo, rơi xuống hai bàn tay đen đúa vì khói bếp. Ông Ba nhìn cảnh đó, khều nhẹ cái ly cà phê trên bàn, nói nhỏ như cho mình nghe: “Có người đâu cần làm chuyện lớn. Chỉ cần nuôi lớn người khác là đủ đầy rồi.”

Lời đó bay ra giữa buổi chiều, lặng lẽ mà chắc nịch. Giống như nhiều năm qua, bà Năm đã đứng trong một góc bếp tối, cặm cụi thắp lửa cho bao nhiêu đứa nhỏ mà chẳng hề hay đời mình cũng sáng theo cách đó.

Rồi tới chuyện của thằng Hùng.

Hùng là con ông Tám chèo ghe, hồi trẻ tướng tá cao ráo, siêng năng, thương một con nhỏ tên Lan ở xã bên. Hai đứa quen nhau lâu lắm, tính chuyện cưới xin đàng hoàng. Ai dè ngay lúc Hùng thất nghiệp vì xưởng gỗ đóng cửa, cha lại bệnh nằm một chỗ, trong nhà nợ ngập đầu, Lan bắt đầu thưa dần. Ban đầu là bận. Sau là chưa tính được. Sau nữa là im luôn. Một bữa Hùng hay tin Lan sắp cưới người khác, làm bên ngân hàng, nhà có điều kiện.

Bữa đó Hùng ngồi ở quán ông Ba từ sáng tới tối. Cà phê uống hết ba ly mà mặt vẫn đờ như cục đất ngâm nước. Trời chiều sụp xuống thấp lè tè. Con rạch trước mặt đục ngầu. Hùng bỗng hỏi, giọng khàn: “Sao lúc người ta khổ, người ta dễ bị bỏ vậy chú Ba?”
Ông Ba không trả lời liền. Ổng ngồi vuốt mép ly, ngó ra hàng dừa nước đang bị gió tạt nghiêng. Một lát ổng mới nói: “Tại có người thương cái bóng mát của mình, chớ không thương cái cây. Tới lúc giông gió, cái bóng mất rồi thì họ đi.”

Hùng cười buồn. Cười xong thì im. Sau bữa đó, nó cắm đầu đi làm. Ban đầu đi bốc vác lúa thuê, rồi học sửa máy xay, để dành chút vốn, sau này mở được cái xưởng nhỏ đóng tủ, đóng bàn ghế ở mé sau chợ. Công chuyện không phải phất lên dữ dội, nhưng đủ cho nó dựng căn nhà gạch, lo thuốc men cho cha, rồi sống đàng hoàng.

Ba năm sau, một chiều mưa bụi, Lan tìm tới quán ông Ba hỏi thăm Hùng. Nghe đâu cuộc hôn nhân của cô không yên, người chồng giàu nhưng lạnh. Lan ngồi đó, áo mưa còn ướt nước, gương mặt đẹp hồi xưa giờ như có lớp bụi mỏng phủ lên. Khi Hùng từ xưởng chạy ra, hai người đứng nhìn nhau một hồi lâu. Người trong quán ai cũng vờ bận chuyện riêng mà tai dỏng lên nghe.

Lan nói nhiều. Nói mình hồi đó dại, nói có những thứ mất rồi mới biết quý, nói giờ chỉ mong được làm lại. Hùng đứng im, mưa ngoài hiên rớt thành hàng lưa thưa. Tới khi Lan ngưng, nó mới chậm rãi nói: “Lúc mưa gió nhứt tui đứng một mình riết quen rồi. Giờ trời yên, chắc tui cũng không cần ai đứng kế nữa.”

Giọng nó không trách, không nặng, không hằn học. Chính cái bình thản đó mới làm người ta xót. Như một vết cắt đã lành da non, đụng vô không còn rướm máu, nhưng biết chắc nó từng sâu dữ lắm. Lan ngồi lặng một chút rồi bước đi. Bóng cô khuất dần sau màn mưa, mỏng mảnh như chiếc lá trôi tuột theo con nước.
Chiều đó ông Ba không nói gì thêm. Chỉ rót cho Hùng ly cà phê mới, đẩy nhẹ lại gần. Hai chú cháu ngồi nhìn mưa, ai nấy giữ một tiếng thở dài trong bụng.

Cứ vậy, quán cà phê cóc dưới gốc bàng già chứng kiến hết lớp người này tới lớp người khác đi ngang. Người rực rỡ một hồi rồi tắt. Người âm thầm mà bền như đốm lửa đêm. Có người cả đời chạy theo một cái đích xa lắc, tới lúc chạm được rồi mới thấy trong tay mình chỉ còn nắm gió. Có người không có gì lớn lao, mà khi ngoảnh đầu nhìn lại mới hay mình đã neo được bao nhiêu phận người.

Thằng Phúc, con ông Ba, ban đầu vẫn không hiểu cha. Mỗi lần về quê nó vẫn thấy quán cũ, khách cũ, cái nghèo cũng cũ. Nó nghĩ cha mình sống uổng một đời, hiền quá, lặng quá, không để lại cái gì rõ ràng nhưng rồi một bữa, nó tình cờ ngồi ở quán từ sáng tới chiều. Nó thấy Minh ghé, bỏ điện thoại xuống lần đầu tiên trong nhiều năm để ngồi im nhìn nước chảy. Nó thấy ông Sáu chống gậy đi tới, được mấy đứa nhỏ gọi “ông Sáu” mà ánh mắt vui như có nắng. Nó thấy bà Năm Bếp cầm túi cam học trò cũ biếu, cười móm mém. Nó thấy Hùng ngồi lặng bên ly cà phê đen, cái dáng không còn gãy gập như mấy năm trước.

Nó tự hiểu ra, quán của cha nó không chỉ bán cà phê.

Nó bán chỗ ngồi cho người mỏi, bán khoảng lặng cho người rối, bán chút ấm nóng cho người đang lạnh trong lòng, bán một nơi để ai đi vòng vòng ngoài đời rồi cũng có thể ghé vô, ngồi xuống, thở ra mà mấy thứ đó đâu có ghi thành tiền được.

Chiều xuống, khi nắng sắp tắt sau đám dừa nước, thằng Phúc bước lại ngồi bên cha. Hai cha con nhìn ra con rạch. Mặt nước bữa nay vàng sẫm, sóng lăn tăn như da tay người già.

Nó nói nhỏ, giọng không còn gắt: “Chắc con hiểu rồi.”

Ông Ba không hỏi hiểu gì. Ổng vốn không quen moi móc lời lẽ. Ổng chỉ ừ một tiếng, châm thêm nước sôi vô cái phin. Từng giọt cà phê lại nhỏ xuống ly, chậm rãi, đen đậm. Mùi thơm bay lên, quen thuộc như một ký ức cũ.

Trong xóm bắt đầu lên đèn. Tiếng xuồng máy ngoài sông cái vọng vô xa xa. Một con chó nằm dưới chưn bàn trở mình, thở khì. Gió chướng non thổi qua, mang theo mùi bùn, mùi cỏ, mùi khói bếp ai đốt buổi cơm chiều. Mấy thứ mùi miền Tây trộn vô nhau, nghe buồn buồn mà ấm.

Ông Ba chợt nói, không nhìn con, như nói với buổi chiều đang xuống: “Đời người ta á, có đứa sáng như đèn chợ. Có đứa sáng như đom đóm ngoài bờ cỏ. Mà sáng kiểu nào cũng là sáng. Miễn đừng tắt trong bụng mình.”

Phúc ngồi im. Câu nói đó rớt vô lòng nó, không kêu thành tiếng, nhưng loang ra từ từ như giọt cà phê rơi vô ly sữa đá. Nó nhớ bao năm qua mình cứ nghĩ đời phải rực rỡ, phải hơn người, phải có gì để chứng minh mới đáng sống. Mà quên mất có những kiếp người không ồn ào gì hết, vẫn đỡ được cho người khác qua mấy đoạn mưa dông.

Ngoài kia, nước ròng đang kéo lục bình trôi thành một vệt dài. Cái quán cà phê cóc dưới gốc bàng vẫn cũ, vẫn xiêu xiêu, vẫn nghèo nhưng trong cái nghèo đó, người ta tới rồi đi, bỏ lại biết bao tiếng cười, tiếng thở dài, bao câu chuyện vui buồn dính trên mặt bàn như vết cà phê khô. Nó giống một mảnh đời nhỏ, không rực rỡ, không ầm ĩ, nhưng bền bỉ giữ ấm cho bao nhiêu lòng người đi ngang.

Và có lẽ, ở một xóm nhỏ dưới miệt này, như vậy đã là đủ cho một đời.

Bùi Vĩnh Thế

Giới thiệu về Dự Án Nam Bộ Chợ Lạc Xoong xem tại đây

Our goal is to help people in the best way possible. this is a basic principle in every case and cause for success. contact us today for a free consultation. 

Menu

Đăng ký nhận tin

Vui lòng điền email để nhận thông tin mới nhất