Người lớn thường mất cả đời để hiểu thứ mà con nít hiểu sẵn: thương là thương, không có điều kiện.
Đêm Sài Gòn có cái tánh kỳ cục.
Ban ngày nó ồn ào, bụi bặm, người chen người, xe chồm xe, ai nấy bận biệu như bị rượt, nên nhiều khi cái buồn, cái nhớ, cái đau trong lòng cũng bị tiếng còi, tiếng máy nổ, tiếng điện thoại rung làm cho lấp đi nhưng hễ qua chín giờ, mười giờ đêm, thành phố bắt đầu chậm lại một chút, mấy con đường giãn bớt xe, quán xá bớt đông, gió từ đâu đó thổi qua mát rượi, là mấy thứ tưởng chừng chôn kỹ lắm lại lục cục trồi lên. Thành ra có những chuyện, ban ngày không ai nói nổi, mà khuya xuống, ngồi trước một ly cà phê đen đá, tự nhiên người ta kể được ráo trọi.
Ông Tư quen ngồi ở một quán cóc gần ngã tư, chỗ cái bảng hiệu đèn neon lâu lâu chớp tắt như người già nháy mắt. Quán nhỏ xíu, mấy bộ bàn ghế nhựa thấp lè tè, phía sau có cái nồi nước sôi lúc nào cũng lục bục, mùi cà phê rang quyện với mùi thuốc lá, mùi nhựa đường, mùi gió đêm, thành ra cái mùi rất riêng của Sài Gòn. Ông Tư ngoài sáu mươi, dáng người ốm nhom, tóc bạc quá nửa, gương mặt không có gì đặc biệt ngoài đôi mắt lúc nào cũng như nhìn sâu hơn cái người ta đang nói. Ổng không phải thầy đời, cũng không phải nhà tâm lý gì ráo. Chỉ là người sống lâu, chứng kiến nhiều cảnh đời nên có cái kiểu nghe chuyện mà không làm người khác thấy mình đang bị soi.
Người ta ưng ông Tư ở chỗ đó. Nhiều người tìm tới ổng không phải để xin lời khuyên, mà để có chỗ ngồi xuống, nói một hơi cho nhẹ lòng. Nói xong, chưa chắc mọi chuyện khá hơn liền nhưng ít ra cũng đỡ tức ngực.
Để cho con còn có má
Tối đó, trời không mưa mà mặt đường vẫn hầm hập hơi nước như mới hong nắng xong. Ông Tư đang ngồi quậy ly cà phê thì có một người phụ nữ tới. Cổ ăn mặc chỉnh tề, áo sơ mi trắng, quần tây tối màu, đi đôi giày gót thấp nhìn thôi cũng biết người quen môi trường văn phòng, quen lịch hẹn, quen họp hành, quen nói chuyện ngắn gọn nhưng khi kéo ghế ngồi xuống, cô để lộ cái mỏi mà son phấn với áo quần đàng hoàng không che nổi.

Cô đặt lên bàn một cái phong bì dầy, nói nhờ ông chuyển giúp cho mấy ông bà già neo đơn bên mái ấm mà ông vẫn thỉnh thoảng ghé. Ông Tư gật đầu, không hỏi số tiền bao nhiêu, cũng không khen chê gì. Cái kiểu làm phước mà cứ bị hỏi tới hỏi lui, nhiều người ngại lắm. Cứ nhận vậy cho người ta nhẹ.
Hai người ngồi im một hồi. Tiếng muỗng chạm thành ly leng keng. Xa xa có tiếng xe tải thắng gấp, rồi yên lại. Người phụ nữ nhìn dòng xe ngoài đường, giọng nhỏ như nói với cái bóng của mình: “Tui hết cha hết mẹ rồi.”
Ông Tư ừ một tiếng, chờ.
“Nghe cũng bình thường hén. Ai rồi cũng tới lúc đó nhưng có những chuyện nó mắc lại trong lòng, không trôi được.”
Cô cười, cái cười mỏng như giấy. Rồi từ từ, cô kể.
Hồi đó nhà cô ở miền Trung, vùng sát sông. Mùa mưa năm đó nước lớn dữ lắm, lớn kiểu mới sáng còn thấy bậc cửa, tới chiều nước đã liếm vô mép giường. Cả xóm nháo nhào, mạnh ai nấy lo kê đồ, buộc lại mấy thứ có thể buộc, rồi tính đường chạy. Cô lúc đó còn nhỏ, nhỏ tới mức ký ức chỉ chừa lại vài mảng rời rạc: trời xám ngoét, tiếng người kêu nhau, mùi bùn tanh tanh, bàn tay má nắm rất chặt, rồi đột nhiên mọi thứ trôi tuột.
“Cha tui lội trong nước, nắm được má tui trước.” Cô nói, mắt vẫn nhìn ra ngoài đường, như không dám nhìn thẳng vô chuyện cũ. “Tui đứng trên bờ, la, khóc, gọi. Ổng quay qua nhìn tui, thiệt là có nhìn. Xong ổng ôm má tui. Rồi nước cuốn cả hai người đi mất.”
Nói tới đó, cô im. Ông Tư nghe tiếng nuốt nước bọt rất khẽ của cô.
“Mấy chục năm rồi, ai cũng nói cha tui thương vợ, thương con, là người tốt nhưng riêng tui, tui hận. Tui hận vì lúc đó ổng chọn má, không chọn tui. Tui là con ổng mà. Một đứa con gái đứng trên bờ, còn nhỏ xíu. Sao ổng bỏ tui?”
Gió thổi ngang qua làm mớ khăn giấy trên bàn bay rung rung. Bà chủ quán đi ngang, liếc thấy không khí nặng quá nên cũng lặng lẽ đi vô. Đêm Sài Gòn nhiều lúc vậy, biết điều hơn cả người.
Người phụ nữ kể tiếp, giọng đều đều nhưng nghe như lưỡi dao cứa vô gỗ cũ. Cô lớn lên trong cảnh không cha không mẹ, đi ở nhà bà con một thời gian rồi tự bươn. Học hành, đi làm, lập nghiệp, ráng giỏi, ráng mạnh, ráng không thua ai. Thiên hạ nhìn vô thì nói số cô bản lĩnh, nghị lực, thành đạt. Chỉ có cô biết, cái động cơ chạy suốt bao năm không hẳn là khát vọng sống tốt, mà là cơn tức âm ỉ không có chỗ trút. Cô sống như để chứng minh cho một người đã mất thấy rằng: “Ông bỏ tui, tui vẫn sống được.”
Nhưng sống được không có nghĩa là lành.
“Tui không khóc được.” Cô nói. “Đám tang cha má, tui cũng không khóc. Sau này có đêm nằm mơ thấy nước, thấy cái lưng cha tui chìm xuống, mà thức dậy vẫn không khóc. Tui tưởng trái tim mình bị cái gì đè cứng rồi.”
Ông Tư vẫn nghe, tay mân mê ly cà phê chảy nước. Một hồi lâu, ông mới chậm rãi nói, giọng nhỏ như sợ nói lớn quá thì làm bể cái mong manh đang có giữa bàn: “Có khi nào… lúc đó cha cô cứu má là vì ổng nghĩ, nếu còn cứu được một người, thì con mình ít ra còn có má?”
Người phụ nữ quay phắt qua. Cái nhìn đầu tiên là sửng sốt, gần như phản ứng nhưng rồi nó chùng xuống rất nhanh, như có ai thọc một lỗ nhỏ vô cái bao đựng đầy căm giận, để nó xì hơi ra từ từ.
Ông Tư không nói thêm. Ổng biết có những câu, nói một lần là đủ. Nói thêm hóa ra dạy đời.
Cô ngồi yên. Môi run lên. Hai bàn tay nắm lại rồi buông ra. Rồi nước mắt chảy xuống, ban đầu là vài giọt, sau đó như bị vỡ bờ. Cô cúi gằm mặt mà khóc, không giữ ý nữa, không còn dáng vẻ của một người đàn bà thành công, chỉ còn lại một đứa con gái nhỏ đứng bên mé nước năm xưa, cuối cùng cũng được quyền khóc cho mình.
Đêm đó, ông Tư không dỗ dành. Ổng chỉ ngồi đó, cho người ta một chỗ khóc đàng hoàng. Nhiều khi con người ta cần vậy thôi.
Những đầu ngón tay
Sau bữa đó mấy hôm, ông Tư vẫn ra quán cũ. Thành phố cuối năm, thiên hạ rục rịch chuyện thưởng, chuyện về quê, chuyện mua sắm. Bàn bên cạnh có một nhóm người trẻ, chắc dân văn phòng. Nói chuyện gì mà toàn target, chạy số, KPI, doanh thu, rồi một đứa trong đám thở dài: “Tết này chắc em không về đâu, vé mắc quá, với lại còn dự án. Gửi tiền về cho ông bà già là được rồi.”
Đứa khác bật cười: “Tui ba năm rồi chưa về. Video call hoài chớ bộ.”
Nghe vậy, cả bàn cười hùa. Cái cười của người trẻ, vô tư mà vô tình.

Ông Tư không quay sang, nhưng từng chữ như lọt vô tai. Ổng nhớ hồi còn trẻ mình cũng từng nghĩ vậy. Rằng cha mẹ ở đó, quê ở đó, mai mốt rảnh rồi về. Rằng mình còn thời gian. Rằng vài cuộc gọi, vài lần gửi tiền, đôi ba món quà là đủ lấp khoảng cách. Cho tới khi một ngày nào đó, có người trong nhà bệnh nặng, hoặc già đi thấy rõ, hoặc ra đi cái rụp như ngọn đèn phụt điện, thì mới té ngửa là mình đã sống như thể cha mẹ là thứ luôn chờ sẵn, cần là còn.
Ổng ngồi tính vu vơ. Nếu một đứa con đi làm xa, mỗi năm Tết mới về được một lần. Cha mẹ giờ bảy mươi. Giả dụ trời thương thêm mười năm nữa. Vậy là còn mười cái Tết. Mười lần gặp. Mười bữa cơm. Mười chuyến ra bến xe đón rồi tiễn. Nghĩ tới đó, tự nhiên ông Tư thấy cái ly cà phê đắng hơn thường lệ.
Nhiều người con đâu có bất hiếu. Chỉ là họ quen tính chuyện lớn mà quên mất mấy thứ nhỏ. Quen lo hợp đồng, lo nhà cửa, lo con cái, lo tương lai, mà quên cha mẹ mình bây giờ sống bằng những thứ rất ít: một cuộc gọi thiệt lòng, một bữa ăn ngồi đủ mặt, một câu hỏi “bữa nay má khỏe hông”, một cái nắm tay khi bước xuống bậc thềm. Cái thiếu của người già thường không phải tiền. Mà là cảm giác mình còn nằm trong lịch ưu tiên của con.
Nhóm người trẻ kia lát sau đứng dậy tính tiền, lại hối hả leo lên xe đi mất. Đèn hậu đỏ rực rồi loang ra xa. Ông Tư nhìn theo, lòng bỗng dâng lên một thứ buồn không rõ mặt. Cái buồn của người từng đi qua một quãng đủ dài để biết có những thứ lỡ rồi là không chắp lại được.
Má đâu có gửi má về cho con
Một đêm khác, gần mười một giờ, ông Tư đi bộ ra ngã tư mua thuốc. Đèn đỏ vừa bật, mấy hàng xe máy đứng chật một đoạn. Giữa đám đèn xe trắng xanh đó, có một bà cụ lom khom đi từ chiếc này qua chiếc kia, tay cầm mấy bịch bông ráy tai với khăn giấy. Lưng bà còng như dấu hỏi, tóc bạc quấn gọn sau gáy, cái áo khoác mỏng cũ tới mức sờn cả cổ tay. Miệng bà mời khẽ, mà tiếng nhỏ xíu, bị tiếng xe lấn gần hết.

Không mấy ai nhìn bà. Có người né mắt đi chỗ khác. Có người xua tay. Có cậu trai trẻ còn kéo ga nhích lên một chút như sợ bà đứng gần làm vướng.
Ông Tư kêu bà lại, mua hai bịch. Bà lí nhí cám ơn rồi định đi, ông mới hỏi: “Khuya rồi, sao bà còn bán?”
Bà cụ cười, cái cười héo queo: “Bán được đồng nào hay đồng nấy chú ơi. Con tui đang nằm viện.”
Ông Tư hỏi thêm mới biết con bà bị tai nạn lao động, nằm một chỗ mấy tháng nay. Nhà không có của ăn của để, cháu thì còn nhỏ. Bà già rồi, làm gì ai thuê, thôi có người quen đưa mấy bịch bông ráy tai cho đi bán ké, được nhiêu hay nhiêu.
Đèn đỏ chuyển xanh. Dòng xe ào đi. Hai người tấp vô lề đường, đứng dưới cột đèn có mấy con thiêu thân bay vòng vòng. Bà cụ thở ra một hơi dài, như tự nhiên có người hỏi trúng chỗ cất tiếng thở than lâu nay.
“Hồi xưa tui cũng có lỗi với nó nhiều lắm,” bà nói. “Nhà nghèo quá, tui bỏ nó ở quê cho ông bà ngoại nuôi, còn tui vô Nam làm mướn. Nghĩ bụng kiếm được tiền gửi về là tròn bổn phận. Ai dè đâu đâu có phải vậy.”
Bà nói hồi đó đi làm xưởng may, rồi phụ quán, rồi rửa chén, rồi bán hàng rong. Tiền gửi về đều đều, nhưng đời đứa con trai ở quê vẫn thiếu đủ thứ. Thiếu người dắt đi học, thiếu người ký sổ liên lạc, thiếu một bữa sốt có má ngồi kế, thiếu cái lúc bị bạn ăn hiếp có người bênh, thiếu luôn cảm giác được ai đó đặt mình lên trước hết.
“Nó học dở, bỏ học sớm, lớn lên cũng lêu bêu. Có bữa cãi nhau, nó nói một câu mà tui nhớ hoài.” Bà cụ cười buồn. “Nó nói: má gửi tiền về cho con, chớ má đâu có gửi má về.”
Ông Tư nghe mà thấy cổ họng nghẹn ngang. Câu nói đơn giản vậy mà nặng hơn đá. Nó đập thẳng vô cái chỗ mà nhiều người lớn cứ tưởng quăng tiền vô là lấp được.
Bà cụ nhìn dòng xe, mắt đục nhưng không ráo. “Giờ nó nằm bệnh, tui mới thấy. Tình thương không có đường tắt. Mình bỏ lỡ lúc nó cần mình, thì sau này có vét hết tiền cũng không mua lại được hồi đó nhưng thôi, còn ngày nào, tui còn ráng ngày đó.”
Ông Tư móc bóp, lấy tiền mua hết số bông ráy tai bà còn cầm. Bà ngơ ngơ đựng khựng lại, nói không có thối. Ổng khoát tay. Bà cảm ơn lia lịa, hai bàn tay run run ôm xấp hàng vô ngực như ôm cái gì quý lắm. Rồi bà đi, cái lưng nhỏ thó lẫn vô ánh đèn xe. Ông Tư đứng nhìn theo, tự nhiên nghe lòng mình nặng như đeo cục chì. Có những món nợ trong đời không ai ép trả, nhưng tới cuối cùng vẫn đòi. Nợ với con, nợ với cha mẹ, nợ với những người mình thương mà đã từng nghĩ để sau cũng được.
“Ba khoẻ hông?”
Chừng nửa tháng sau, ông Tư ghé một mái ấm quen ở cuối con hẻm nhỏ. Nơi đó nhận nuôi mấy đứa nhỏ bị bỏ rơi, mấy phụ nữ khó khăn, mấy trường hợp đời xô dạt. Cổng sắt cũ sơn màu xanh đã bong gần hết. Trong sân có cây bàng thấp, mấy cái ghế nhựa xếp chồng, góc bếp thơm mùi cháo loãng với nước tương. Nơi đó không đủ đầy, nhưng sạch sẽ và có hơi người.
Ngay gần cổng, ông Tư thấy một con nhỏ ngồi co chân trên ghế đá. Nó chừng sáu tuổi, ốm nhách, tóc cắt lởm chởm, cặp mắt to quá cỡ trên khuôn mặt nhỏ. Nó không chơi với mấy đứa kia. Chỉ ngồi nhìn ra đầu hẻm.

Một cô phụ trách kéo ông Tư vô trong, nhỏ giọng kể. Con bé bị cha đưa tới trước cửa Hội Phụ nữ, nói ngồi chờ ba đi siêu thị mua đồ rồi quay lại. Nó ngồi chờ từ sáng tới chiều, khóc mệt quá mới được người ta bế vô. Sau đó chuyển qua đây. Ban đầu ai hỏi gì nó cũng chỉ nói: “Ba đi mua đồ.” Mấy ngày sau, vẫn câu đó. Qua một tuần, vẫn ngồi gần cổng chờ.
Có tin đồn nó bệnh, có người nói nó bị nghi nhiễm bệnh nặng nên gia đình bỏ. Mấy chuyện đó loạn cào cào, chưa chắc thật, nhưng đủ để thấy đời một đứa nhỏ có khi mong manh hơn sợi tóc. Mấy cô ở đây thương lắm, mà thương cỡ nào cũng không thay được chỗ trống của người thân.
Ông Tư bước ra ngồi xuống cái ghế đá cách nó một đoạn. Con nhỏ liếc ông, rồi lại nhìn ra đầu hẻm. Ông hỏi: “Con ngồi đây chi vậy?”
Nó đáp tỉnh queo: “Con chờ ba.”
“Ba con đi lâu hông?”
“Dạ, chút nữa ổng về.”
Câu trả lời làm ông Tư nghe đau nhói trong bụng. Con nít nó tin lời người lớn dữ lắm. Nhiều khi người lớn nói cho xong, cho tiện cái thân mình, còn tụi nhỏ đem câu đó cất như cất vàng.
Mấy cô ở mái ấm nói liên hệ gia đình dưới quê khó khăn lắm. Ban đầu bên đó chối, nói không biết đứa nhỏ nào. Sau nhờ dò tới người chú, người chú mới nhận là có, rồi gọi mãi, gây áp lực mãi, cuối cùng người cha mới chịu vô đón.
Cái bữa ông đó tới, trời Sài Gòn nắng gắt. Nắng trong hẻm hắt vô sân như đổ lửa. Mấy cô trong nhà đi ra đi vô, ai cũng căng. Người đàn ông bước vô với dáng ngập ngừng, mặt cúi cúi, áo quần xộc xệch, trông vừa mệt vừa tránh né. Trong sân im như tờ. Ai cũng chờ phản ứng của con nhỏ.
Nó đang ngồi gần cổng. Nghe tiếng chân, nó quay lại. Trong một tích tắc, ông Tư tưởng nó sẽ khựng, sẽ sợ, sẽ tủi thân rồi khóc ré lên nhưng không. Mắt nó sáng bừng. Nó tuột xuống ghế, chạy ào tới, ôm chặt lấy bụng người đàn ông đó như ôm cái cột nhà mình kiếm lại được sau cơn bão.
Nó ngước lên, cười, hỏi một câu mà tới giờ ông Tư còn nhớ nguyên giọng: “Ba khỏe hông?”
Cả sân đứng lặng. Một cô quay mặt đi quẹt nước mắt. Người đàn ông cứng người mấy giây, rồi cúi xuống ôm con, hai vai rung lên bần bật. Không biết đó là hối hận, xấu hổ, hay nhẹ nhõm. Có khi là đủ cả.
Ông Tư đứng ở góc sân, nghe trong lòng mình có cái gì vừa mềm ra vừa đau hơn. Người lớn tụi mình hay nói đạo lý, nói tổn thương, nói tha thứ như chuyện gì ghê gớm lắm. Mà có khi một đứa nhỏ sáu tuổi, bị bỏ lại, bị lừa ngồi chờ hết ngày này qua ngày khác, nó còn biết thương trước khi biết giận. Nó không hỏi “sao ba bỏ con”, không hỏi “sao giờ ba mới tới”. Nó hỏi: “Ba khỏe hông?” Câu hỏi của một đứa con. Gọn lỏn. Trong veo. Mà như cái tát vô lòng người lớn.
Tối hôm đó, ông Tư lại về quán cũ. Đèn vàng vẫn hắt nghiêng trên mặt bàn nhựa trầy trụa. Bà chủ quán đưa ly cà phê ra, hỏi bữa nay sao coi bộ trầm dữ vậy, ổng cười cười cho qua. Ngoài đường, xe chạy vẫn đều. Có cặp vợ chồng chở nhau về khuya, đứa nhỏ ngủ gục giữa hai người. Có thằng giao hàng tấp vô uống vội ly trà đá rồi đi. Có cô bán vé số ngồi bó gối bên gốc cây, tranh thủ đếm tiền lẻ. Sài Gòn rộng thiệt, người đông thiệt, mà rốt cuộc ai cũng đang mang trên người một hai câu chuyện chưa kể hết.
Ông Tư ngồi nhớ lại từ đầu. Người phụ nữ thành đạt kia, bao năm mang cục hận với cha mà thực ra bên dưới là một đứa con bị bỏ lại giữa nỗi mất mát chưa kịp hiểu. Đám người trẻ ở bàn bên, nói chuyện về quê như nói chuyện một cái hẹn có thể dời, đâu biết mỗi lần lỡ là bớt đi một lần gặp. Bà cụ bán bông ráy tai còng lưng giữa ngã tư, đang dùng quãng đời còn lại để trả món nợ cũ với con. Con nhỏ ở mái ấm thì ôm cha nó như chưa từng có chuyện gì, làm người lớn đứng xung quanh thấy mình nhỏ xíu.
Ổng chợt thấy đời sống này, rốt cuộc lòng vòng cũng quay về một chữ thương nhưng thương không phải cứ nói là có. Cũng không phải có tiền là bù được. Thương là có mặt. Là ngồi xuống nghe nhau nói hết một câu. Là bớt cái tôi lại một chút để người thân đỡ tủi. Là đừng đợi thuận tiện mới thương, đừng đợi giàu mới báo hiếu, đừng đợi xin lỗi xong xuôi trong đầu mới quay về. Nhiều thứ trong đời hễ để trễ là nó hư luôn, như tô hủ tiếu để nguội, như ly cà phê đá chảy hết nước, như chuyến xe cuối cùng rời bến rồi thì có chạy theo cũng chỉ còn thấy khói.
Gần nửa đêm, gió mát hơn. Ông Tư móc điện thoại cũ trong túi áo ra, nhìn một hồi rồi bấm số người em gái ở quê. Chuông reo mấy tiếng mới bắt máy. Đầu dây bên kia giọng ngái ngủ, cằn nhằn: “Khuya rồi gọi chi vậy ông nội?” Ông Tư cười, nói không có gì, tự nhiên nhớ nên gọi hỏi bữa nay có khỏe không. Người em im mấy giây rồi giọng dịu xuống. Hai anh em nói chuyện một chút, chẳng có gì lớn lao, chỉ hỏi cây xoài sau hè năm nay có trái chưa, thằng Út mới đi làm chỗ nào, bà dì Tám đau gối đỡ chưa. Toàn chuyện vụn vặt nhưng lạ, nói xong ông thấy lòng nhẹ đi một khúc.
Tắt máy, ông nhìn dòng xe bớt bớt ngoài đường. Thành phố này dạy người ta nhiều cách để sống nhanh, sống giỏi, sống lì nhưng chắc nó cũng âm thầm dạy một điều khác: rằng giữa bao nhiêu chen chúc, thứ giữ mình khỏi lạc mất chưa bao giờ là tiền hay danh hay cái vẻ ngoài coi cho được. Mà là mấy sợi dây tình cảm mình còn giữ được với nhau.
Có người mất cả đời mới hiểu cha mình hồi đó không phải bỏ mình, mà bất lực. Có người tới lúc mẹ yếu chân, cha lẫn trí mới sực nhớ số lần còn gặp không còn bao nhiêu. Có người già rồi mới biết gửi tiền không thay được gửi chính mình. Có người bị bỏ rơi vẫn còn thương, để người lớn nhìn vô mà xấu hổ.
Sài Gòn ngoài kia vẫn sáng đèn. Mấy bảng hiệu vẫn nhấp nháy. Mấy chiếc xe ôm công nghệ vẫn chở người đi xuyên qua đêm. Ở đâu đó, chắc còn có người đang giận cha, người đang hẹn Tết sau mới về, người đang bán thêm vài món lặt vặt để lo cho con, người đang ngồi trước cổng chờ một ai đó thất hứa.
Ông Tư nhấp ngụm cà phê cuối. Ly đã tan gần hết đá, vị đắng lẫn nước, không còn gắt mà nhạt nhạt nơi đầu lưỡi. Ổng đặt tiền xuống bàn, chậm rãi đứng dậy. Trước khi đi, ổng ngoái nhìn con đường thêm một lần nữa, lòng nghĩ bụng: đời người ta dài thiệt đó, mà nhiều khi cái kịp với cái không kịp chỉ hơn thua nhau một cuộc gọi, một chuyến về quê, một cái nắm tay, một câu xin lỗi, hay một lần quay đầu lại.
Có những người từ một đêm nào đó sẽ sống khác đi một chút. Không ồn ào, không long trời lở đất. Chỉ là bớt chần chừ hơn. Bớt làm bộ mình còn nhiều thời gian hơn. Bớt tin rằng tình thương để dành khi nào cũng được.
Vì có những thứ, hễ mình để nó trôi thêm một khúc nữa thôi, là biết đâu mai mốt muốn níu lại cũng không còn kịp. Mà cái chữ “không kịp” ở đời, nghe nhẹ hều vậy chớ nặng dữ lắm. Nó đeo người ta hết một quãng còn lại, bỏ xuống không được.
Phát triển dựa trên một số bài giảng của Cha Phương Đình Toại
Bùi Vĩnh Thế
Giới thiệu về Dự Án Nam Bộ Chợ Lạc Xoong xem tại đây