14/03/2026

TRĂM NĂM TẠC MỘT CHỮ “CÙNG”

Người ta thường nhớ những ngày sung túc nhưng thiệt ra, thứ làm người ta thương nhau lâu dài nhất lại là những ngày nghèo khó, khi hai bàn tay chẳng có gì ngoài việc nắm chặt lấy nhau.

Sài Gòn đón hai vợ chồng tụi nó bằng cái nắng đổ lửa, thứ nắng hắt từ mặt đường nhựa lên nghe rát rạt cặp ống chân. Hai đứa từ dưới miệt Cà Mau khăn gói lên, mang theo cái vali cũ sứt quai, mấy bộ đồ gấp vuông vức trong bọc xốp, với hơn bảy trăm ngàn bạc nhét kỹ trong túi áo, hết.

Hết thiệt. Hổng có cục đất chọi chim, hổng bà con thân thích, chẳng chỗ nương nhờ nào ngoài lời chỉ dẫn của ông anh họ bắn đại bác mới tới từng làm phụ hồ trên này. Ổng biểu lên quận ven đó mướn tạm cái phòng trọ, rồi ai đụng việc gì mần việc nấy. Ở quê, ruộng ít nhà đông, năm đó nước nhảy khỏi bờ trễ, lúa thất mùa, con cá ngoài mương cũng thưa rếch. Ở riết, cái nghèo nó hổng còn là chuyện lạ, mà nó thành cái thứ hơi đất quẩn quanh trong nhà, sáng ra mở mắt là thấy, tối nằm xuống cũng nghe nó thở đâu đó trên mái lá.

Con Hạnh ngồi sau xe đò xuống bến, bước chân còn chưa quen mặt đường thành phố, đã thấy tim mình chùng xuống. Xe cộ qua lại như nước lũ, nhà cửa chen nhau, người ta đi đứng lẹ làng như sợ chậm một chút là bị cuộc đời bỏ lại. Nó níu vạt áo chồng, hỏi nhỏ, giọng lạc quẻ giữa tiếng còi xe:
“Anh Lộc, mình ở đây thiệt hả anh?”

Anh Lộc xách cái vali lên, quay lại nhìn vợ. Mặt anh đen sạm vì nắng đồng, đôi mắt hiền khô mà bữa đó cũng chao đảo dữ lắm nhưng anh vẫn cười, cái cười mỏng dánh như tờ giấy, nói:
“Ừ, ráng đi em. Chớ về dưới giờ cũng biết mần gì ra tiền.”

Câu đó nghe như để an ủi vợ, mà thiệt ra cũng là để tự dằn lòng mình.

Phòng trọ hai đứa mướn nằm trong con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo, nền thấp tịt, mưa lớn chút là nước tấp vô tận cửa. Phòng chỉ vừa đủ trải cái chiếu đôi, kê thêm cái bếp dầu nhỏ với cái thau nhôm là coi như hết ráo chỗ. Mái tôn thấp lè tè, ban ngày nắng đổ xuống nghe hầm hập như người ta úp nguyên cái lò than lên đầu. Bà Sáu Sương, chủ trọ, dẫn vô coi phòng, vừa đi vừa nói trổng:

“Phòng này tháng hai trăm rưỡi. Điện nước tính riêng. Tui nói trước, ở được thì ở, chớ hổng có bớt bát gì hết trơn. Trên này ai cũng cực, tui đâu phải má thiên hạ.”
Miệng bả nói chỏng lỏn vậy, mà lúc thấy con Hạnh lom khom phủi bụi góc tường, bả cũng quăng qua cho cái xô cũ với cây chổi chà:
“Lấy xài đỡ đi bây. Chớ quét tay chừng nào mới sạch.”

Đêm đầu tiên ở trọ, hai vợ chồng nằm trên cái chiếu mới mua ngoài chợ trời, nghe tiếng xe máy ngoài đường rì rì hoài không dứt. Ở quê, đêm xuống là nghe tiếng dế, tiếng ếch nhái, xa xa có tiếng ghe máy muộn còn chạy trên sông. Còn ở đây, đêm như không ngủ. Thành phố cứ sáng, cứ động, cứ như có hàng ngàn người đang gồng mình thức cùng một nỗi lo nào đó.

Con Hạnh trở mình, nhìn lên mái tôn đen xì.
“Anh nè.”
“Hửm?”
“Mình có ở nổi hông anh?”

Anh Lộc im một hồi. Cái im lặng đó nặng hơn cả tiếng quạt máy nhà bên kêu lọc cọc. Rồi anh đưa tay qua, tìm bàn tay vợ trong bóng tối.
“Ráng đi em. Từ từ rồi quen hơi lặng tiếng à.”
Nó “ừ” nhỏ xíu. Ngoài miệng nói vậy thôi, chớ nước mắt đã rịn ra từ khi nào. Nó nhớ má nó dưới quê, nhớ cái sân đất có bụi chuối sau hè, nhớ cả mùi khói rơm buổi chiều. Ở quê nghèo thiệt, nhưng nỗi buồn nó có chỗ đáp xuống. Còn trên này, buồn cũng phải giấu vô ngực, chớ ai rảnh đâu mà ngó tới mình.

Mấy ngày đầu, anh Lộc theo chân ông anh họ ra công trình xin việc. Ban đầu chỉ là phụ trộn hồ, vác gạch, khiêng cát. Việc nặng, lương hẻo, mà ai mới lên cũng phải chịu vậy. Tay anh vốn quen cầm cuốc, cầm liềm, giờ chuyển qua vác xi măng, buổi chiều về người mỏi nhừ như bị xe cán qua. Có bữa cởi áo ra, con Hạnh thấy nguyên một mảng vai đỏ ửng, trầy da tróc vẩy, nó xót ruột hỏi:
“Đau dữ hông anh?”
Anh chỉ cười hì hì:
“Đau gì đâu. Mấy bữa là quen mặt ngay mà.”

Người ta ở đời, nhiều khi thương nhau cũng từ mấy câu nói gọn lỏn như vậy. Không kể lể, không than thở, nhưng nghe vô mới thấy trong đó là cả một trời ráng chịu vì nhau.

Phần con Hạnh, buổi sáng nó dậy sớm nấu xôi đem ra bán trước cổng trường. Mỗi gói lời được có chút đỉnh, mà cũng phải chen chân với mấy người bán trước. Bữa nào bán chậm, nó ôm thúng xôi đi dọc mấy con hẻm rao khàn cả cổ. Trưa về, người mồ hôi nhễ nhại, nó lại tranh thủ giặt giũ, nấu cơm, rồi chiều chạy qua xưởng may nhỏ gần đó hỏi người ta có nhận thêm người không. May sao, bà chủ thấy nó hiền hậu, chịu khó, nên cho vô phụ cắt chỉ, đóng nút, lương tính theo ngày.

Thành ra ngày nào cũng vậy. Sáng ra, hai vợ chồng ăn vội chén cơm nguội chan nước tương, rồi ai đi đường nấy. Tối về, có khi một người đã ngủ gục, người kia mới lục đục mở cửa vô. Vậy mà bữa cơm tối nghèo cỡ nào, con Hạnh cũng ráng nấu nồi canh. Có khi canh rau muống nấu với vài con tép khô, có bữa chỉ là nồi nước sôi bỏ hành, đập quả trứng vô đánh lên cho có mùi có vị. Anh Lộc ăn ngon lành, vừa ăn vừa nói:
“Cơm vợ nấu ngon hơn cơm tiệm nhiều.”
Nó biết anh nói cho nó vui lòng nhưng nghe vậy, lòng cũng thấy ấm áp lạ kỳ.

Tối tối, nếu còn dư được vài ngàn, hai đứa mua ly cà phê sữa đá ngoài đầu hẻm. Một ly thôi. Hai người ngồi trước cửa phòng, chuyền tay nhau uống. Thành phố về khuya vẫn còn tiếng người, mà ở góc nhỏ đó, tụi nó có được một khoảng lặng riêng. Anh Lộc hay kể bâng quơ chuyện công trình, chuyện ông thợ chính khó tính như ma, chuyện có người cùng quê Năm Căn nói giọng nghe thương dữ lắm. Con Hạnh thì kể chuyện trong xưởng, chuyện chị tổ trưởng hay la vậy chớ bụng tốt, bữa trưa còn sẻ cho nó miếng chả lụa.
“Mai mốt dành dụm được ít tiền, mình mua cái quạt máy nghen anh.”
“Ừ.”
“Rồi mua thêm cái giường sắt nữa. Chớ nằm đất hoài em thấy ê mình ê mẩy quá.”
“Ừ.”
“Rồi… biết đâu mai mốt mình mướn được cái chỗ rộng rãi hơn.”

Anh Lộc ngó ra đầu hẻm, nơi ánh đèn vàng quạch đang hắt xuống nền xi măng lổn nhổn. Anh cười:
“Mai mốt mình có cái nhà nhỏ cũng được mà.”

Con Hạnh nghe vậy cười theo. Cái nhà nhỏ. Hồi còn ở quê, nó chưa từng nghĩ tới chuyện giàu sang gì. Nó chỉ mong có chỗ nào đó là của mình, chiều đi làm về có thể đặt lưng xuống mà không lo tháng sau chủ trọ đòi tiền hay đuổi khéo. Một giấc mơ bé tẹo, vậy mà hồi đó coi bộ xa xôi dữ thần.

Đời người ta đang gồng gánh, chỉ cần một cơn xô là lảo đảo liền. Năm thứ hai ở Sài Gòn, đúng lúc hai vợ chồng vừa dành dụm được chút ít, anh Lộc té giàn giáo. Bữa đó con Hạnh đang ở xưởng, nghe người ta chạy tới kêu, tay chân nó bủn rủn như không còn xương. Nó quăng dở đống hàng, chạy ra tới bệnh viện mà đầu óc đặc quánh. May là anh không mất mạng, chỉ gãy một chân, trật khớp vai, nhưng bác sĩ biểu phải nằm một chỗ dài ngày.

Nhìn anh nằm trên giường bệnh, mặt tái mét, môi khô rang, nó cắn môi tới bật máu. Hôm trước còn là người đàn ông vác được cả chồng gạch, hôm nay nằm im như cành củi khô bị dập giữa dòng. Anh thấy vợ đứng đó, liền nói trước, giọng gượng gạo:
“Anh hổng sao đâu mà.”
Nó nghe mà muốn khóc rống lên. Có sao chớ sao không. Mà sao anh cứ phải ráng gồng mình hoài vậy.

Từ bữa đó, mọi gánh nặng đổ hết lên vai con Hạnh. Ban ngày nó đi xưởng, ban chiều tranh thủ ghé bệnh viện, tối về lụi hụi nấu nồi cháo, giặt đồ, rồi tính tới tính lui coi tiền bạc còn đủ cầm cự được bao lâu. Mớ tiền dành mua quạt, mua giường bấy lâu nay, coi như đội nón ra đi sạch bách cho tiền thuốc, viện phí.

Có những đêm, nó ngồi bó gối ở hành lang bệnh viện, nhìn bóng đèn trắng hắt xuống nền gạch lạnh ngắt, tự dưng thấy mình nhỏ xíu như hột bụi. Chung quanh ai cũng lo phần mình. Tiếng rên rỉ, tiếng dép kéo lẹt xẹt, tiếng xe đẩy lộc cộc qua lại nghe riết thành một thứ buồn thê lương. Bữa đó, nó mệt quá, nước mắt cứ chảy ròng ròng mà không thèm lau. Nó nghĩ hay thôi, mình về quê đi. Có nghèo cũng còn có mái nhà, có chòm xóm. Chớ ở đây, ngã xuống một cái là thấy mình như thân lục bình trôi sông lạc chợ, hổng biết bám víu vô đâu. Tối đó, lúc bệnh viện vãn bớt người, nó ngồi bên giường, nói nhỏ: “Hay mình về quê đi anh.”

Anh Lộc quay đầu nhìn vợ. Trong ánh đèn nhợt nhạt, tự dưng anh thấy con Hạnh già đi mấy tuổi. Quầng mắt thâm sì, tóc tai bết lại, hai bàn tay sần sùi vì đủ thứ việc. Người ta nói đàn bà lấy chồng là theo một phận đời. Còn anh, bữa đó thấy rõ mình như đang kéo phận vợ chìm xuống theo.

Anh nuốt miếng nước bọt, nói chậm rãi:
“Về thì cũng được nhưng giờ về… mình lại bắt đầu từ con số không.”
Nó cúi mặt, lặng thinh.
Anh im một hồi rồi tiếp:
“Ráng thêm chút nữa nghen em. Lỡ phóng lao rồi thì phải theo lao.”

Câu đó, sau này con Hạnh nhớ tới già. Nó không phải lời hứa giàu sang, cũng chẳng phải lời động viên bay bổng. Chỉ là một câu nói thiệt thà của người đàn ông chẳng biết hoa mỹ, nhưng cái ý là: anh chưa buông đâu, em đừng bỏ anh nghen.

Nó quay đi, chậm nước mắt.
“Ừ. Em biết rồi.”
Qua cơn tai nạn đó, hai vợ chồng như cây mạ non bị nước nhấn chìm một bận, tưởng úng rễ mà rồi vẫn ngoi lên được. Anh Lộc nằm dưỡng mấy tháng. Trong thời gian đó, bà Sáu Sương bớt cho tiền trọ một phần. Bả hổng nói thẳng là giúp, chỉ chống nạnh đứng ngoài cửa biểu:
“Tháng này đưa nhiêu đưa, thiếu thì cứ ghi sổ đó. Chừng nào mần lại được thì tính sau. Tui đâu có chạy mất mà sợ.”

Miệng đời nhiều khi cộc cằn vậy thôi, chớ lòng người vẫn còn chỗ mềm. Con Hạnh nghe mà muốn sụt sùi, chỉ biết dạ dạ rồi quay vô.

Ngày anh Lộc tập tễnh đi lại được, chân còn cà nhắc, con Hạnh mừng tới nỗi tối đó nấu nồi canh chua cá lóc, món lâu lắm rồi mới dám ăn. Hai đứa ngồi ăn trong căn phòng trọ nóng hừng hực, mà tự nhiên thấy ngon hơn cả đám tiệc. Qua cái khổ rồi, người ta mới thấy có một bữa cơm đủ đầy thôi cũng là phước đức lắm rồi.

Sau tai nạn, anh không leo giàn giáo cao nữa. Anh xin chuyển qua làm thợ hồ phần dưới, rồi từ từ học thêm nghề xây tô, ốp gạch. Tay nghề khá lên, lương lậu cũng nhích dần. Phần con Hạnh, mấy năm trong xưởng giúp nó quen được mối mang. Nó nghỉ may, ra đầu khu công nghiệp bán cơm trưa cho công nhân. Buổi đầu bán ít, bữa sau bán khá hơn, rồi thành mối quen. Nó nấu ngon, sạch sẽ, lại thiệt thà, thành ra khách cứ đông nườm nượp.

Có những đổi thay hổng đến ào ào như mưa giông, mà tới từ từ như nước ròng, sáng không thấy, chiều nhìn lại mới hay bờ đất đã lộ thêm một đoạn. Hai vợ chồng cũng vậy. Từ cái quạt máy mua sau cùng, rồi cái giường sắt, rồi tới chiếc xe máy cũ. Tới khi dọn qua được căn phòng trọ lớn hơn, có chỗ đặt cái bàn nhựa cho đàng hoàng, con Hạnh đứng giữa nhà ngó tới ngó lui, cười suốt buổi.
“Thấy hông anh, phòng này rộng hơn phòng cũ gần gấp đôi luôn á.”
Anh Lộc đang kê cái bếp gas mini xuống góc, ngó vợ cười:
“Ừ. Tối khỏi sợ đạp chân vô mặt nhau nữa.”

Nó nguýt một cái dài thượt, mà mặt mày rạng rỡ. Thiệt ra đời tụi nó lúc đó vẫn chưa gọi là dư dả gì, nhưng có những người từng đi qua cảnh thiếu trước hụt sau rồi, chỉ cần bớt chật vật một chút thôi cũng đủ thấy lòng nhẹ tênh như bông gòn.

Nhiều năm nữa trôi qua, Sài Gòn vẫn ồn ào vậy, vẫn khói bụi vậy, nhưng hai vợ chồng không còn thấy nó đáng sợ như hồi mới chân ướt chân ráo lên đây. Thành phố này đâu có hiền. Nó bắt người ta trả giá bằng mồ hôi, bằng sức vóc, bằng những đêm thức trắng lo từng đồng tiền trọ nhưng nếu chịu ráng, nó cũng cho người ta cái chỗ để bám trụ mà sống tiếp.

Tới lúc hai đứa mua được miếng đất nhỏ ở Thủ Đức, dựng căn nhà cấp bốn đơn giản, anh Lộc đứng trước hiên nhìn một hồi lâu hổng nói lời nào. Căn nhà không lớn, tường chưa tô kỹ, sân trước chỉ đủ dựng chiếc xe với vài chậu bông con Hạnh ưa trồng. Vậy mà trong mắt hai người, nó quý giá vô ngần. Cái chỗ này, từ nay mưa nắng gì cũng là nhà mình. Hổng còn ai gõ cửa đòi tiền trọ cuối tháng. Hổng ai biểu mình dọn đi chỗ khác.

Bữa dọn vô nhà mới, con Hạnh lấy cây nhang thắp lên bàn thờ ông Địa nhỏ xíu, rồi quay qua nói với chồng:
“Hồi mới lên, em đâu dám nghĩ có ngày mình được vậy đâu anh.”
Anh Lộc đang lúi húi vặn lại cái chân bàn, nghe xong chỉ cười:
“Anh cũng vậy.”

Người ngoài nghe chắc tưởng hai vợ chồng này sống với nhau khô khan, ít lời. Mà thiệt ra, có những cặp sống lâu với nhau rồi, chữ nghĩa đâu còn quan trọng bằng cách người này rót sẵn ly nước cho người kia, nhớ chừa miếng cá ngon, hay thấy trời trở gió là nhắc nhau kéo cửa sớm. Tình nghĩa nó hổng nằm ở mấy câu nói mùi mẫn. Nó nằm ở chỗ suốt bao nhiêu năm trời, mình luôn có một người để quay về, để cùng lo, cùng gánh, cùng ráng.

Một buổi chiều sau này, khi con cái đã lớn khôn, căn nhà nhỏ trước kia đã sửa sang thêm được chút đỉnh, con Hạnh đứng trước hiên nhổ cỏ mấy chậu bông, nhìn qua thấy anh Lộc đang lom khom sửa chiếc xe máy cũ. Nắng chiều đổ xuống vai anh, màu nắng dịu như mật ong cũ. Tóc anh đã pha bạc, lưng cũng hổng còn thẳng như hồi trai trẻ. Con Hạnh tự dưng nhớ lại cái bữa hai đứa bước xuống bến xe, chỉ có cái vali sứt quai và nỗi lo nhiều hơn niềm tin. Nó cười một mình rồi nói:
“Hồi đó mình nghèo dữ thần ôn ha anh.”
Anh Lộc ngẩng lên, tay còn cầm cái mỏ lết, cũng cười:
“Nghèo thiệt chớ bộ.”
“Cực nữa.”
“Ừ.”

Nó ngừng một chút, mắt nhìn ra con đường trước nhà có mấy đứa nhỏ đang chạy giỡn.
“Mà em nhớ lại… em thấy thương gì đâu á.”

Anh Lộc không đáp liền. Một lát sau, anh dựng chiếc xe lên, bước ra hiên ngồi cạnh vợ. Hai người ngồi im, nghe gió chiều lùa qua đám lá trước sân xào xạc. Cái im lặng đó hổng có buồn. Nó giống như một dòng nước sau bao nhiêu khúc quanh, cuối cùng cũng chảy tới đoạn êm đềm.

Anh Lộc nói khẽ, như nói với chính mình:
“Chắc nhờ hồi đó nghèo quá, nên mình mới biết thương nhau tới tận bây giờ.”

Con Hạnh quay qua nhìn chồng. Bỗng dưng sống mũi cay xè. Đời người lạ lắmm, người ta thường nhớ những lúc đủ đầy, những ngày rực rỡ nhưng có khi thứ neo người ta lại với nhau lâu nhất hổng phải là lúc vui, mà là những ngày trắng tay, khi trong túi hổng có gì ngoài mấy đồng bạc lẻ, ngoài nỗi lo sáng mai ăn gì, ngoài hai bàn tay còn siết chặt nhau trong căn phòng trọ nóng hầm hập.

Cũng như cây lúa ngoài đồng, muốn trổ bông phải đi qua mùa nước ngập, mùa sâu rầy, mùa nắng cháy đất. Tình vợ chồng nhiều khi cũng vậy. Không phải cứ nói thương là thành nghĩa. Phải cùng nhau đi qua những bữa cơm chan nước mắm, những phen đau bệnh, những lúc muốn buông mà chưa dám buông, mới hiểu người nằm cạnh mình quý giá cỡ nào.

Chiều đó, nắng tắt chậm rì. Bóng hai vợ chồng đổ dài trước sân, chạm vô nhau thành một vệt mờ không tách rời được. Con Hạnh ngồi sát lại một chút, đủ để vai chạm vai. Anh Lộc không nhìn qua, chỉ nhích tay cho vừa vặn. Vậy thôi, mà hình như, cả một đời vợ chồng rốt cuộc cũng chỉ cần có bấy nhiêu đó là đủ.

Bùi Vĩnh Thế

Giới thiệu về Dự Án Nam Bộ Chợ Lạc Xoong xem tại đây

Our goal is to help people in the best way possible. this is a basic principle in every case and cause for success. contact us today for a free consultation. 

Menu

Đăng ký nhận tin

Vui lòng điền email để nhận thông tin mới nhất