“Người ta có thể quay về, ngồi lại chung một mái nhà, ăn chung một nồi cơm nhưng cái thương đâu phải lúc nào cũng trở lại chỗ cũ; có thứ nó chỉ lắng xuống dưới đáy bùn. Nhìn mặt nước êm vậy thôi, chớ thò chân bước sâu thêm một chút là nghe lòng mình chạm đáy rồi.”
____
Con sông trước nhà ông Minh bữa đó đứng nước, nước không lớn cũng không ròng, lờ đờ như một câu nói bỏ dở. Mấy cọng lục bình trôi ngang bến, đụng vô cây cọc neo cũ rồi tách ra, lặng lẽ như người ta gặp nhau ngoài chợ, gật đầu một cái rồi thôi, không ai hỏi thêm gì.
Ông Minh ngồi chồm hổm trên ván, tấm lưới trải ngang đùi, kim vá cầm bằng tay trái, tay phải kéo sợi cước, mũi kim đi chậm, đều, không ai hối. Lâu lâu gió từ ngoài vàm thổi vô, hất lên mùi bùn non, mùi nước lợ, mùi sình quen thuộc tới mức nghe như mùi áo mình. Cái ghe của ổng nằm sát bờ, mạn ghe tróc sơn, chỗ vá chằng vá đụp, có miếng tôn nhỏ che một lỗ thủng cũ, nhìn giống cái miệng cười méo xệch của một người già răng rụng sống lâu.
Người ta kêu bán ghe đổi cái khác cho mới, ông Minh không nói nhiều, chỉ lấy giẻ lau quệt quệt mạn ghe một hồi, quệt xong thì quấn giẻ lại, để lên mui, như thể giữ đồ cho gọn. Ổng vẫn quen vậy, cái gì còn xài được thì xài chứ không bỏ uổng. Nghề thương hồ của ổng cũng vậy, không làm giàu mau, không chết liền, cứ trôi theo con nước, coi trời coi đất, coi lòng người đặng cư xử.
Hồi đầu những năm chín mươi, bến này đông lắm. Sáng sớm nghe tiếng máy đuôi tôm rền rền, tiếng gọi nhau í ới, tiếng cân lúa lạch cạch, tiếng bịch lúa quăng lên ghe phập phồng như cá quẫy. Khi đó đường bộ chưa mạnh, người ta còn tin ghe xuồng, tin cái chợ nổi, tin cái cảnh “nước tới đâu làm ăn tới đó”.
Ông Minh khi đó mới ngoài hai mươi, không có gì ngoài đôi vai xương xẩu, hai bàn tay hay bị lúa cắt rướm máu, cái mũi rành mùi lúa khô lúa ướt và thói quen mang theo cuốn sổ tay bọc nylon, chữ ghi nghiêng ngả mà lúc nào cũng sạch sẽ. Mua lúa, ổng không nhìn mặt người bán trước, ổng bốc một nắm, vò trong lòng bàn tay, ghé mũi ngửi một cái, rồi mới ngước lên gật hay lắc. Thứ đó người già coi trọng lắm: làm ăn không phải nói giỏi mà phải biết coi hàng, coi nước, coi ngày.
Nhà bên bà Minh lúc đó khá giả, ruộng đất nhiều, có căn nhà gạch lợp ngói đỏ, trước sân trồng mấy chậu sứ, bông trắng bông hồng nở quanh năm. Bà Minh hồi còn con gái quen cảnh sung sướng, áo quần thơm nắng, tóc lúc nào cũng gọn gàng, đi đâu cũng có người dặn dò coi ngó. Vậy mà người ta gả bà cho ông Minh, không phải vì ông Minh giàu mà vì ông Minh có cái dáng đàn ông biết chịu thương chịu khó.
Lần đầu ông Minh qua nhà, ổng để đôi dép ngay ngắn, quay mũi ra ngoài. Uống trà, ổng đợi người lớn đưa ly trước. Nói chuyện làm ăn, ổng không khoe, chỉ nói nhỏ: “Con rành con nước, còn lời lỗ thì nhờ trời, nhờ mình làm cho đàng hoàng.”. Nói xong ổng đứng dậy, đi ra sau hè phụ bửa củi, không cần ai biểu.
Ngày cưới, bên nhà gái làm lớn còn bên nhà trai làm gọn. Ông Minh bận áo sơ mi trắng, cổ áo ủi thẳng, tay áo xắn lên vừa đủ. Bà Minh bận áo dài, đứng kế ổng, mặt hơi ngó nghiêng như người chưa quen nhìn ruộng bằng mắt của kẻ sắp phải đi xa.
Vậy mà đêm tân hôn, ông Minh trải chiếu, mắc mùng, lặng lẽ đặt bên gối bà Minh một cái khăn mới còn thơm mùi vải. Bà Minh liếc qua, không nói nhưng tới khuya trời chuyển gió, bà Minh kéo cái khăn đó đắp ngang bụng. Ông Minh nằm sát mép chiếu, nghe tiếng bà thở đều, bàn tay ổng lần ra ngoài, kéo cái mùng xuống cho kín hơn, động tác nhẹ hều như sợ làm gãy giấc ngủ của người ta.
Mấy năm đầu nhà nghèo mà ấm. Ông Minh đi ghe sớm, về ghe trễ, lúc nào cũng nhớ đem về cho bà Minh thứ gì đó: bữa thì miếng vải trơn mua ở chợ huyện, bữa thì chai dầu thơm, bữa thì mớ đường thẻ cho bà kho cá. Ông Minh không nói lời đường mật, ổng làm nhiều hơn nói. Buổi sáng bà Minh dậy, thấy bếp đã có sẵn bó củi bửa nhỏ, nồi nước đã đổ đầy.
Bữa nào bà Minh than nóng, chiều về ông Minh đóng thêm cái cửa sổ nhỏ ở vách sau, khoét vừa đủ cho gió lùa. Bữa nào bà Minh muốn ăn cá lóc nướng trui, ông Minh về ghe, tay dính mùi lúa mà vẫn bẻ nhánh trâm bầu, nhóm lửa, nướng cá, cái mỡ cá xèo xèo rớt xuống than nghe vui như tiếng cười.
Thời đó làm ăn còn dễ thở. Giá lúa không lên xuống dữ như sau này. Mấy ông thương hồ còn có chỗ đứng. Ông Minh mua lúa tận ruộng, chở về bán lại cho vựa lớn, lời chút đỉnh. Lời không nằm ở miệng, lời nằm ở chỗ ông Minh cân đúng, trả sòng phẳng, thiếu một ký cũng móc tiền ra bù. Có bữa người ta kẹt, ông Minh không gấp, ổng chỉ lấy cây bút chì, ghi vô cuốn sổ nylon: “Tư Bảnh thiếu mười bao, hẹn bữa sau.”. Ghi xong, ổng cột miệng bao lúa lại giùm người ta cho chặt, sợ lúa đổ, rồi mới bước xuống ghe.
Bà Minh ngồi nhà, nghe người ta khen chồng mình, khen riết bà Minh cũng bớt cái thói so đo. Có khi bà Minh ngồi chải tóc, nhìn ra bến, thấy bóng ông Minh lom khom rửa mạn ghe, bà Minh cười nhẹ, nụ cười mỏng như lớp sương trên mặt sông.
Rồi thời cuộc đổi, đổi kiểu không ai kịp trở tay. Qua đầu những năm hai ngàn, đường bộ mở ra, xe tải chạy vô tận xã. Thương lái lớn xuất hiện, cò lái nhiều, người ta làm ăn bằng giấy tờ, bằng cái miệng biết vẽ đường. Giá lúa bắt đầu bấp bênh, bữa lên bữa xuống. Ông Minh vẫn đi ghe, vẫn bốc lúa ngửi mùi nhưng có những thứ mùi ổng ngửi không ra: mùi của lòng người khi họ đã biết tính toán bằng cách khác.
Chuyến đó là chuyến làm ông Minh gãy lưng. Có một mối mới, người đàn ông nói năng bảnh bao, miệng cười sáng trưng, xưng quen biết trên huyện dưới tỉnh. Người đó hứa gom mối lớn, kêu ông Minh ứng trước tiền mua lúa non, rồi “bán một cái là lời”. Ông Minh do dự. Ổng về, ăn cơm mà không động đũa mấy. Bà Minh nhìn, không hỏi, bà chỉ gắp miếng cá bỏ vô chén ổng, rồi đứng dậy rửa chén, lưng quay đi, tiếng nước chảy che giùm một khoảng lặng. Đêm đó ông Minh lấy cuốn sổ bọc nylon ra coi đi coi lại, lật tới lật lui như lật vận mình.
Sáng hôm sau, ổng đi. Hôm mua lúa, ông Minh bốc lúa ngửi một lần, rồi gật. Cái gật đó sau này ổng nhớ hoài, nhớ như nhớ một cái tát. Lúa được chất đầy ghe. Trên đường về, mưa bất tử, nước sông đục thêm, gió nổi, mạn ghe va vô cọc, nghe cộc một cái. Ông Minh kéo áo phủ lên bao lúa trước, rồi mới phủ lên vai mình.
Về tới vựa, người mua ép giá, nói lúa ẩm, nói lúa non, nói đủ thứ. Mối kia biến mất, điện thoại không được, nhà trọ không còn. Ông Minh đứng giữa sân vựa, nghe tiếng người ta cười khẩy, tự dưng thấy cái nắng miền Tây hôm đó gắt như muối chà lên vết trầy. Ổng bán lúa lỗ, lỗ tới mức phải cầm chiếc máy đuôi tôm, rồi cầm luôn cái ghe.
Từ đó nhà lạnh đi, lạnh không phải vì thiếu gạo, mà vì thiếu tiếng nói. Bà Minh quen cảnh được chiều, quen cái cảm giác yên, mà yên kiểu này là yên như nắp nồi đậy lên một nồi nước sắp sôi. Bà Minh bắt đầu về bên nhà cha mẹ ruột nhiều hơn. Lúc đầu bà nói “con qua thăm má”, rồi thành “con qua ở vài bữa”. Ông Minh không cản, ổng chỉ đứng ở bến nhìn theo, tay cột dây ghe chặt hơn bình thường.
Bữa bà Minh dọn đồ đi, bà bỏ quên mấy cái áo. Ông Minh không đem qua liền. Ổng giặt, phơi, xếp lại, để trong cái giỏ đệm sạch. Đêm đó ổng nằm một mình, nghe tiếng dế kêu, nghe nước vỗ mạn ghe rồi trở mình qua lại. Sáng ra ổng đem giỏ áo qua, để trước thềm, không gõ cửa, chỉ quay về. Trên đường về, ổng ghé chợ mua hai ký đường thẻ, đem bỏ vô hũ ở nhà, như thể bà Minh còn đó, sẽ về nấu chè.
Một thời gian sau, trong xóm rộ lên chuyện bà Minh có người khác. Người đàn ông kia ăn mặc đẹp, chạy xe, nói chuyện lớn. Người ta thấy bà Minh đi cùng, tóc tai chỉnh tề, mắt sáng hơn. Có người chạy lại nói với ông Minh. Ông Minh đang bốc vác thuê ở bến, nghe xong ổng không nói gì, chỉ cúi xuống buộc lại sợi dây bao lúa bị tuột. Buộc xong, ổng lấy tay phủi phủi bụi lúa trên quần, rồi gánh tiếp. Tối về, ổng ăn cơm nguội với muối hột, rót trà, để một cái ly dư đối diện, nhìn một hồi rồi cất vô.
Khi bà Minh về lấy thêm đồ, ông Minh chỉ nói đúng một câu: “Bữa nào mình nhớ thì về.”. Nói xong ổng quay vô sau, bửa củi. Tiếng rìu bổ xuống nghe cộc cộc, đều đều, như người ta nén cái gì đó xuống sâu.
Cái người đàn ông kia không phải thứ thật. Mấy năm sau, đất cát lên giá, rồi cũng chính đất cát làm người ta té. Nhà bên bà Minh bị lừa, giấy tờ vòng vèo, ruộng bán, tiền mất. Những bữa giỗ bên nhà bà Minh thưa dần mâm. Cái sân trước trồng sứ vẫn nở bông, nhưng bông nhìn mỏng, như cố nở cho có.
Bà Minh lúc đó ốm đi, nước da bớt hồng. Có bữa bà đứng trước bến nhà ông Minh, tay cầm cái túi nhỏ, ngón tay bấu chặt quai như sợ buông ra là rớt hết. Ông Minh lúc đó cũng không còn là ông Minh của ngày cưới. Ổng đã lăn qua đủ thứ việc. Khi đường bộ mạnh, ghe xuồng thưa, ông Minh bỏ nghề thương hồ một thời gian, đi kéo lưới thuê, bốc vác lúa, chở cá mướn, ai kêu gì làm nấy.
Sáng sớm ổng dậy trước gà, rửa mặt bằng nước lu, lấy khăn lau qua loa rồi đi mần. Trưa nắng, ổng ngồi nép dưới bóng cây bần, ăn cơm nguội, uống ngụm nước sôi nấu để từ sáng giờ đã nguội ngắt. Chiều về, ổng ghé bến coi nước, coi lục bình trôi, rồi mới vô nhà. Có bữa người ta trả công thiếu, ổng không cự, ổng chỉ nhìn tờ tiền, xếp lại, bỏ vô túi, tối về lôi ra xếp ngay ngắn trong cái hộp thiếc. Ổng xếp thẳng hàng như xếp lại đời mình.
Nhờ cái tính lì đó, vài năm sau ông Minh mua lại được một cái ghe cũ rồi mở một cái vựa nhỏ sát bờ sông. Vựa nhỏ thôi, mấy cái cọc, cái sạp cân, mấy chục bao lúa nhưng ông Minh làm đàng hoàng. Mua lúa, ổng lại bốc một nắm, vò trong tay, ngửi. Cân lúa, ổng đứng sát cái cân, nhìn kim nhích từng chút. Đêm neo ghe, ổng lấy áo khoác phủ lên bao lúa trước, rồi mới phủ cho mình, thói quen không bỏ.
Bà con thấy ổng làm ăn lại, người ta tới hỏi, người ta gợi ý, người ta nói chuyện mai mối. Có đàn bà góa chồng, có người lỡ thì, có người cần chỗ dựa. Ông Minh nghe, ổng chỉ cười, lấy cớ đi coi nước rồi bước ra bến. Ổng không nói mình còn thương ai, ổng chỉ đứng ngoài đó nhìn con sông chảy, giống như nhìn một câu hỏi dài không biết trả lời sao.
Bà Minh quay về, không có đám cưới lại, không có tiếng trống tiếng kèn. Bà chỉ xách đồ vô, dọn lại cái tủ cũ, lau bàn thờ, thay bình bông. Ông Minh không hỏi bả đã đi đâu, đã sống sao. Ổng chỉ lấy cái mùng bông cũ ra giặt phơi nắng rồi mắc lại.
Bữa cơm đầu tiên bà Minh nấu lại cho ông Minh, bà kho nồi cá linh với bông điên điển, mùi cá thơm mà nghe trong đó có chút cay, chút chát. Ông Minh ăn, gắp cho bà miếng đầu cá, như hồi xưa, động tác tự nhiên tới mức chính ổng cũng giật mình. Bà Minh cầm đũa, khựng một chút, rồi ăn. Trong bếp, tiếng muỗng đụng vô thành nồi nghe lẻ loi, như tiếng gõ nhẹ vô một cái cửa đóng lâu năm.
Sống chung lại, hai người vẫn làm những việc như vợ chồng nhưng có thứ gì đó đã đổi màu. Đêm xuống, đèn tắt sớm hơn. Ông Minh nằm quay lưng ra ngoài, bà Minh quay mặt vô vách, giữa hai người có khoảng trống mỏng như sợi chỉ.
Bữa nào bà Minh ra chợ, ông Minh dặn “coi chừng nắng”, dặn xong ổng bước ra vựa, coi bao lúa, không dặn thêm gì khác. Bà Minh về, thấy ông Minh đang cặm cụi vá lưới, bà ngồi xuống cạnh, cầm đầu sợi cước giùm ổng. Hai người không nói nhiều. Có lúc bàn tay bà Minh chạm vô bàn tay ông Minh, chạm xong rút về liền, nhanh như chạm vô nước nóng.
Ngoài đời, người ta nhìn vô tưởng ông Minh rộng lượng, tưởng bà Minh may mắn nhưng trong nhà, cái vết gợn nằm yên như lớp phù sa lắng dưới đáy không thấy mà có. Có bữa đang ăn, bà Minh buột miệng nhắc chuyện cũ, nhắc tên người kia, rồi im lặng. Ông Minh đặt chén xuống, đứng dậy đi ra bến rửa tay. Ổng rửa kỹ, rửa lâu, như muốn rửa bớt một cảm giác dính dai. Rửa xong, ổng trở vô, gắp thêm miếng cá cho bà Minh coi như chưa có gì.
Có những hôm trời mưa dầm, nước sông lên cao, gió quất vô mái tôn ràn rạt, bà Minh giật mình thức, nhìn qua thấy ông Minh vẫn nằm đó, hơi thở đều. Bà kéo mền đắp thêm cho ổng, tay run nhẹ. Ông Minh trở mình kéo mền lại cho bà, không mở mắt. Cái thương của hai người bây giờ giống như bếp than âm ỉ, không bùng lửa nhưng còn nóng, chạm vô vẫn thấy phỏng.
Mùa lúa tới, người ta đem lúa tới vựa, ông Minh lại đứng cân, lại ghi sổ. Cuốn sổ bọc nylon cũ vẫn còn, chữ thêm lên ngoằn ngoèo như dòng rạch nhỏ quanh xóm. Bà Minh đôi khi ra phụ, ngồi lựa lúa, lượm rác, tay dính bụi lúa, móng tay đen đi, bả nhìn vậy mà không than. Bữa trưa, bà Minh đem ra cho ông Minh tô canh chua nấu bần, bỏ nhiều bạc hà, nhiều ngò om. Ông Minh ăn xong, để cái muỗng ngay ngắn, rồi lấy khăn lau mồ hôi trên trán bà Minh, lau nhẹ hều. Bà Minh cúi xuống, giả bộ xếp lại mấy cái bao cho khỏi nhìn thẳng.
Một lần, có người khách lạ tới, nói năng trơn tru, gợi mối làm ăn lớn. Ông Minh nghe, không gật liền. Ổng bốc lúa ngửi kỹ, nhìn người đó lâu hơn. Người đó cười, hỏi sao ông Minh khó tính. Ông Minh chỉ đưa tay rờ mạn ghe, chỗ miếng tôn vá cũ, rồi nói nhỏ: “Tui sợ cái gì trơn quá. Trơn là dễ tuột.”. Nói xong ổng quay qua coi lại cái cân, coi kim đứng đúng vạch chưa.
Bà Minh đứng bên cạnh nghe vậy tay siết nhẹ cái quai rổ, mắt nhìn xuống như nhìn thấy một đường nứt rất nhỏ trong lòng mình. Đêm đó, con sông lại đứng nước. Ông Minh ngồi ở bến vá lưới, mũi kim vẫn chậm. Bà Minh từ trong nhà bước ra đem theo bình trà. Bà đặt bình trà xuống ván bến, ngồi cách ông Minh một đoạn vừa đủ nghe tiếng kim xuyên qua mắt lưới.
Bà nhìn con nước, hỏi nhỏ: “Mai nước lớn hông ông?”. Ông Minh không nhìn bà, chỉ nhìn ra sông: “Chắc… cũng tới. Mà cũng hổng biết.”. Nói xong ổng kéo sợi cước, thắt một nút, gọn gàng. Bà Minh ngồi thêm chút nữa, rồi đứng dậy vô nhà. Đi được vài bước, bà quay lại, như muốn nói gì, mà cuối cùng chỉ với tay kéo nhẹ cái đèn bão treo ở cột bến cho ngay.
Ông Minh nhìn theo động tác đó, lòng ổng nhói một cái, nhói như bị vảy cá cứa. Ổng không kêu mà cúi xuống, tiếp tục vá. Ông Minh kéo sợi cước, sợi chỉ căng quá bật một cái nhỏ, nghe “tách”. Ổng nhìn mối vá vừa làm, không biết nó chịu được tới mùa lũ này hông. Rồi dừng lại, không nói gì thêm.
Con sông phía trước vẫn trôi, lục bình vẫn dập dềnh, nước vẫn lờ đờ như một câu nói bỏ dở.
Ở đời, có những thứ quay lại được mà không quay lại nguyên vẹn. Ông Minh biết, bà Minh cũng biết. Chỉ là hai người vẫn ngồi chung một mái, vẫn ăn chung một nồi cơm, vẫn để dành cho nhau những điều nhỏ xíu: cái ly trà rót dư, cái mùng kéo kín hơn khi trời trở gió, cái khăn lau mồ hôi đặt đúng chỗ. Hai người sống như vậy, không dám tin nhiều, cũng không nỡ buông, như bà con mình quen chờ con nước, quen tin rằng hễ còn thương thì sông chưa nỡ cạn mà cũng hiểu là có bữa nước lớn quá lỡ nó cuốn đi, có níu lại không xong.
Bùi Vĩnh Thế
Giới thiệu về Dự Án Nam Bộ Chợ Lạc Xoong xem tại đây