Cha nội Minh năm nay bốn mươi bốn tuổi. Cái tuổi dở dở ương ương, nói bắt đầu lại thì quá lứa, mà biểu già để người ta thương tình chừa cho cái ghế ngồi không thì chưa tới.
Minh rời xóm nhỏ bên Cái Bè lên Sài Gòn từ hồi hăm mấy tuổi đầu. Nhớ hồi đó, sáng nào mặt sông cũng giăng mùng màng sương mỏng lét, chiều xuống ghe máy chạy ì ì, tiếng nước vỗ vô mạn nghe buồn hiu như tiếng thở dài của đất.
Hồi đó Minh tính đơn giản lắm. Ở quê đất ít, ruộng chia năm xẻ bảy, làm đổ mồ hôi hột cũng chỉ đủ ăn. Nghe người ta đồn trên Sài Gòn ai chịu cày là sống được, Minh tin sái cổ. Tin thiệt thà như tin con nước ròng nước lớn vậy thôi.
Hai chục năm trôi cái vèo, Minh cũng có mái gia đình nhỏ, đứa con đang học lớp tám với căn chung cư cũ nằm tuốt trong hẻm sâu. Mỗi sáng ổng đóng bộ sơ mi, xách xe ra đường, kẹt xe cũng thây kệ, nóng nực cũng ráng chịu. Ổng có cái bàn làm việc riêng, tên tuổi dán đàng hoàng trên ngăn kéo, mấy đứa nhỏ trong chỗ làm kêu bằng “anh Minh” nghe cũng ra vẻ. Tuy không phải chức trọng quyền cao, nhưng cũng đủ cho ổng thấy mình có một chỗ đứng giữa cái xứ hoa lệ này.
Đùng cái, một buổi sáng nọ công ty kêu họp.
Cái phòng họp lạnh ngắt, máy lạnh chạy rè rè. Người ta thao thao bất tuyệt về chuyện “tái cấu trúc”, “tinh giản”, rồi nói cần mấy đứa trẻ ranh cho linh hoạt, nhanh nhảu. Minh ngồi nghe, hai tay đặt trên đùi, im thin thít. Tới lượt mình, ổng cũng chỉ gật đầu cái rụp. Người ta hứa hỗ trợ mấy tháng lương coi như có chút “tình nghĩa đôi ta”.
Bước ra khỏi công ty bữa đó, Minh đứng dưới bóng cây nhìn dòng xe chạy không dứt. Thành phố này ngộ lắm, không vì một ai mất việc mà nó chạy chậm lại chút nào. Ổng tự an ủi: “Thôi kệ, coi như nghỉ xả hơi ít bữa rồi kiếm chỗ khác. Chừng này kinh nghiệm, sợ gì chết đói.”
Dè đâu mấy tháng sau trôi qua lẹ quá xá. Ban đầu ổng còn thong thả cà phê sáng, mở máy tính sửa hồ sơ gửi chỗ này chỗ kia. Minh vẫn sơ mi đóng thùng đàng hoàng, vẫn tin mình chỉ “tạm nghỉ giữa hiệp”. Nhưng đi phỏng vấn hết chỗ này tới chỗ nọ, câu trả lời nghe phát chán: “Anh quá kinh nghiệm”, “Bên em cần người trẻ”, “Sợ anh theo không kịp”…
Minh không hiểu mình theo không kịp cái giống gì. Công việc vẫn vậy, có điều người ta khoái mấy đứa nói năng liếng thoắng, làm việc vèo vèo trên mấy cái phần mềm mới. Bước ra khỏi phòng, nhìn mấy đứa nhỏ cỡ tuổi con cháu mình cười nói rôm rả, tay không rời cái điện thoại, Minh chợt thấy mình giống y hệt cái bàn gỗ cũ: còn chắc chắn, còn xài tốt, nhưng ngặt nỗi người ta thích đồ mủ, đồ nhựa cho nó hợp thời.
Tiền trợ cấp cạn hồi nào không hay. Ngân hàng réo đòi nợ, trường nhắn đóng tiền học, dưới quê thì ba Minh đau lưng nặng, uống thuốc tễ thuốc tây gì cũng không bớt. Vợ Minh không càm ràm, chỉ lẳng lặng bớt mua sắm, bữa cơm cũng đạm bạc đi. Cái sự im lặng đó nó nặng dữ dằn lắm, nặng hơn cả mấy lời chửi bới.
Bữa nọ, thằng bạn cũ làm dưới khu công nghiệp Bình Dương hú điện thoại, hỏi Minh có chịu vô làm kho tạm không. Làm ca đêm, cực trần thân, lương tính theo ngày. Minh im lặng một hồi lâu, nhìn cái áo sơ mi treo trên lưng ghế, nhìn đôi tay vốn quen gõ phím hơn là bưng bê. Rồi ổng gật đầu cái rụp.
Vô khu công nghiệp, Minh mới thấy mình lọt thỏm vô một cái thế giới khác. Đèn cao áp sáng trưng, máy chạy rì rì thâu đêm suốt sáng, không khí lúc nào cũng nặc mùi sắt thép với dầu máy. Minh mặc cái áo phản quang, lủi thủi theo mấy đứa công nhân trẻ kéo hàng, kiểm đếm. Mới mấy bữa đầu mà cái lưng muốn rụng, cổ tay tê cứng, hai cái chân đứng không vững.
Mấy đứa công nhân nhỏ xíu gọi ổng bằng chú. Thằng quản lý nhỏ hơn ổng cả chục tuổi, nói chuyện cộc lốc, gọn lỏn. Minh không buồn, cũng chẳng thèm giận. Ổng chỉ thấy mình đang trôi qua một khúc sông khác, nước xiết hơn, lạnh hơn, không cho phép mình lờ đờ.
Tan ca lúc trời hửng sáng, mấy anh em rủ nhau ngồi trước cổng làm ly cà phê gói. Ly nước nóng hổi, khói bay lẫn vô màn sương sớm. Người này than nhà trọ tăng giá, người kia kể con ở quê mới vô lớp một, người thì rầu rĩ làm hoài không dư. Minh ngồi nghe, ít khi lên tiếng, nhưng lần đầu tiên sau mấy tháng trời, ổng thấy mình không còn lạc quẻ.
Có bữa vợ Minh nhắn tin con cần tiền gấp đóng học thêm mà lương kho chưa tới ngày lãnh. Minh đứng trong phòng trọ chật ních, nhìn cái điện thoại cũ mà lòng trống hơ trống hoác như cái rạch cạn nước. Thằng em công nhân làm chung thấy vậy nói: “Chú chạy thêm xe ôm công nghệ đi, tối kiếm vài xị cũng đỡ.”
Minh chần chừ, lúc mở cái ứng dụng lên mà cái tay run run. Lần đầu mặc cái áo khoác xanh, đội cái nón bảo hiểm có logo, ổng thấy mình như biến thành người khác. Cuốc xe đầu tiên, khách hối, đường kẹt, mồ hôi ướt đẫm cái lưng áo. Có lúc dừng đèn đỏ, nhìn bóng mình trong kính chiếu hậu của chiếc xe hơi bên cạnh, ổng không nhận ra nổi người đàn ông từng ngồi phòng máy lạnh ký hợp đồng tiền tỷ năm nào.
Một lần đi giao hàng, Minh đụng mặt người quen cũ từng làm chung công ty. Ổng khựng lại, định quay đầu xe chạy đại đi cho khuất mắt mà không kịp. Hai người nhìn nhau trân trân một hồi. Người kia không hỏi chuyện làm ăn, chỉ hỏi một câu: “Anh có mệt không?”. Minh cười khì, gật đầu cái nhẹ. Ngay lúc đó, ổng chợt ngộ ra, bấy lâu nay cái sự xấu hổ là do mình tự bày ra cho mình khổ thôi.
Ít bữa sau, má dưới quê điện lên nói ba trở nặng. Ổng xin nghỉ mấy ngày, lật đật chạy về miền Tây. Con đường về quê vẫn vậy, hai bên lúa trổ, kinh rạch chằng chịt, mấy mái nhà tôn thấp lè tè. Về tới nhà, thấy ba nằm trên bộ ván gõ, thở dốc. Má ngồi quạt xuýt xoa, không nói nên lời.
Chiều đó, Minh ra bến sông cũ ngồi. Chỗ hồi nhỏ hay tụm năm tụm ba câu cá. Nước sông đang ròng, bờ đất lở lói. Miền Tây giờ cũng hết dễ ăn rồi. Người trẻ đi biền biệt, ruộng cho thuê, vườn tược bỏ hoang. Mấy ông chú hàng xóm lân la hỏi: “Trên trển làm ăn ngon không Minh?”. Ổng chỉ cười trừ. Ổng hiểu ra, quê hương giờ không còn là cái “đường lui” êm đềm nữa, mà là cái gốc để mình nhớ mình là ai giữa dòng đời.
Trở lại Sài Gòn, Minh tiếp tục cái nhịp sống mới. Ngày làm kho, tối chạy xe. Chẳng mơ mộng đổi đời chi cho mệt, chỉ mong đứng cho vững trên đôi chân mình. Có bữa con ổng hỏi: “Sau này con có phải đi làm xa như ba không?”. Minh im lặng một hồi rồi mới thủ thỉ: “Đi đâu cũng được con ơi, miễn là mình biết mình đang đi vì cái gì.”
Sáng sớm, Minh chạy xe trên quốc lộ. Một bên là khu công nghiệp hối hả, một bên là mấy khoảnh ruộng hiếm hoi còn sót lại.
Dòng người ngược xuôi ai cũng vội vàng, Minh cứ bình thản mà chạy. Không chen, không lấn. Ổng biết mình không còn đứng trên cao, nhưng cũng chưa từng buông tay xuôi mặc kệ đời. Với Minh lúc này, ngược dòng hay xuôi dòng đâu còn quan trọng. Miễn sao đừng để mình bị cuốn trôi mất xác là đủ rồi.
Bùi Vĩnh Thế
Giới thiệu về Dự Án Nam Bộ Chợ Lạc Xoong xem tại đây