14/03/2026

CÁI ĐIỆN THOẠI BÀN NHÀ ÔNG TƯ

Cái xóm đó hồi năm 1996–1997 núp sau một cái hẻm gồ ghề, mưa xuống là sình lầy lội, trơn như mỡ gà, nắng lên thì bụi bay mù trời, bám vô ống quần nghe rột rạt. Dân trong xóm phần lớn là người miền Trung, từ Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên vô, mang theo cái giọng nắng gió với cái lưng đã quen gánh gồng. Ở riết rồi cái giọng còn nguyên, mà nếp sống thì đổi hồi nào hổng hay.

Trong xóm chỉ có duy nhất một cái điện thoại bàn để ở phòng trước nhà ông Tư. Cái điện thoại màu xám, dây xoắn lòng thòng như con rắn nằm phơi nắng. Chuông reng lên một cái là cả xóm hay liền. Ông Tư gắn điện thoại để mần ăn rồi thành ra giữ đầu dây cho cả xóm. Ổng nghèo, cái nghèo lộ ra ở bộ đồ sờn vai, ở cái quạt máy quay nghe cót két, ở bữa cơm chỉ có dĩa cá kho mặn với chén canh rau nhưng cái tánh ấm áp của ổng thì hổng giấu đi đâu được, nó nằm ở chỗ ổng ngồi đó, chờ người ta gọi xong cũng ghi sổ cẩn thận mà hổng có hối, cũng hổng có nói nặng nói nhẹ tiếng nào.

Cái dãy phòng trọ phía sau nhà gọi là trọ cho sang, chớ thiệt ra chỉ là mấy căn phòng nhỏ, tường xây lâu năm đã ngả màu, mái tole cũ kêu lụp bụp mỗi khi mưa xuống. Dãy đó do ba mẹ ông Tư để lại. Hồi trước, khi đất này còn xa xôi, hai ông bà cất tạm mấy gian nhà nhỏ cho người làm mướn, người buôn gánh bán bưng thuê. Hổng có lời lóm bao nhiêu, chủ yếu để có người ra vô cho nhà cửa đỡ quạnh hiu.

Ba mẹ đi theo ông bà tổ tiên, nhà ông Tư ở lại giữ, giữ luôn mấy căn phòng đó. Tiền phòng ít ỏi, đủ đắp đổi qua ngày. Người ta thiếu thì cho thiếu, kẹt quá thì cho ở thêm. Ông Tư sống bằng cái dãy trọ, mà cái dãy trọ cũng sống nhờ cái tánh hổng nỡ của ổng.

Buổi tối, xóm hay tụ lại quanh cái bàn nhỏ đặt điện thoại. Người đứng dựa vách, người ngồi chồm hổm ngoài hành lang, tay cầm sẵn mấy tờ tiền lẻ. Mỗi cuộc gọi là một sợi dây kéo ngược về quê, kéo theo mùi đất khô, mùi rơm ướt, mùi bếp củi tắt nửa chừng. Người cầm ống nghe thường quên bẵng xung quanh, chỉ còn lại đầu dây bên kia với những câu chưa dám nói hết lòng.

Anh Ba phụ hồ gọi về cho vợ con ngoài Quảng đều đặn. Mỗi lần tới lượt, anh cầm ống nghe bằng hai tay, y như cầm cái thứ gì dễ bể: “Mi ở nhà răng rồi? Con hắn học hành ra răng? Ở trong ni ổn, có chi mô mà lo.”

“Ổn” là chữ anh xài hoài, như cục đá nằm dưới đáy kinh, nước dâng cỡ nào cũng ráng nằm im. Có bữa anh Ba cúp máy xong, ngồi thụp xuống ghế, lưng còng lại y như cái bao xi măng thấm nước. Tối đó, xe hủ tiếu gõ đẩy ngang hẻm, anh mua một tô, chia làm hai, đẩy qua cho thằng nhỏ phòng kế bên, nói gọn lỏn: “Ăn đi, tau no rồi.”

Chị Hồng bán hàng rong gọi về quê ít hơn, nhưng lần nào gọi cũng lâu thiệt lâu. Chị quay mặt vô vách, giọng miền Trung trầm trầm. “Má ăn cơm chưa? Trời bữa ni có mưa không? Con nhỏ hắn dạo ni ho còn nhiều không?”

Cúp máy xong, chị ngồi im re, tay bóp chặt mấy tờ tiền lẻ. Tối hôm đó, chị ghé mua ổ bánh mì thịt ngoài đầu hẻm, xẻ ra làm đôi, đem qua phòng thằng Lâm chỉ coi như con chỉ. Nó hay hỏi tới, chị chỉ cười: “Có chi mô, ăn dằn bụng nghen.”

Thằng Lâm, công nhân trẻ, gọi về quê nhanh như sợ tốn tiền: “Ba mẹ đừng lo, con làm được. Ở trong ni người ta thương nhau lắm.”

Cúp máy là nó xắn tay áo, phụ ông Tư cuốn gọn dây điện thoại, rồi chạy đi mua dùm ổng mấy cái đồ lặt vặt như mọi khi ổng hay nhờ. Nó nghèo, nghèo thấy rõ nhưng tay lúc nào cũng mở ra.

Ông Tư biết chuyện của họ hổng phải vì ai kể trọn hết, ổng biết qua giọng nói lọt qua đầu dây, qua những khoảng lặng sau khi cúp máy, qua mấy câu “cho tui thiếu bữa ni nghen” nói thiệt nhỏ. Ổng giữ mấy chuyện đó như giữ lửa trong tro, che lại cho khỏi tắt.
Có bữa mưa lớn, nước ngập tới bắp chân, điện chập chờn, điện thoại hổng gọi được, cả xóm dồn vô phòng ông Tư. Ổng châm cà phê vợt bằng cái phin nhôm cũ, mùi cà phê sánh đặc lan ra, quyện mùi mưa ẩm. Mỗi người một ly, ngồi sát rạt lại, hổng ai nói gì nhiều mà thấy lòng đỡ lạnh.

Rồi thời gian qua đi, Sài Gòn đổi khác, đường sá mở rộng, dạo sau này thấy người ta cắm cọc, có mấy bữa cán bộ vô đo đất, cái gọi là dãy nhà trọ của ông Tư nằm trong diện có cái đường lớn đi qua, có muốn ở nữa cũng hổng có ở được, cái đêm hay tin là cái đêm dài nhất trong cuộc đời ổng.

Xóm “rã đám” từng người. Anh Ba theo công trình lên Bình Dương, nói ở đó việc đều hơn, tiền khá hơn, hẹn bữa nào ghé thăm mà rồi không biết bao giờ. Chị Hồng gửi con vô được Sài Gòn, dọn qua quận khác gần chợ lớn, bán buôn dễ thở hơn chút. Thằng Lâm theo bạn bè vô khu chế xuất mới, có phòng trọ khác, chật hơn nhưng gần chỗ làm.

Mỗi người đi đều ghé chào ông Tư, không ai nói lời lớn. Chỉ mấy câu nhỏ: “Con đi nghe chú Tư”, “Bữa ni dọn, con gửi chìa khóa.”, “Có dịp con ghé lại.” Ông Tư gật đầu, cười nhẹ, dặn dò như dặn con cháu trong nhà. Không giữ ai lại, vì ổng hiểu Sài Gòn là chỗ cho người ta đi tiếp, không phải chỗ để níu.

Ngày tháo cái điện thoại bàn xuống, căn phòng trước trống hẳn. Cái bàn gỗ thấp còn đó, vết tròn nơi cái điện thoại từng đặt còn in màu cũ. Ông Tư ngồi nhìn một lúc lâu, nghe như trong phòng còn văng vẳng tiếng chuông reng, còn mấy giọng miền Trung trôi qua đầu dây, lúc nhanh lúc chậm, lúc cứng lúc mềm.

Ổng ở lại, giữ cái dãy trọ cũ của ba mẹ thêm một vài tuần, ổng cũng chưa nghĩ sẽ đi về đâu. Tiền đền bù mấy thì ổng nghèo thì vẫn nghèo, nhà cũng có trống mà cũng hổng có trống vì có những giọng nói từng đi ngang đời ổng, có những câu “ở đây ổn” nói ra giữa lúc chưa ổn thiệt.

Ổng Tư ổng hiểu, Sài Gòn hổng có giữ người bằng nhà cửa, Sài Gòn giữ người bằng cách dạy người ta thương nhau trong lúc ngặt nghèo, ai học được rồi, đi đâu cũng sống được.

Xóm tan, nhưng mấy cái người “ni” đã kịp “Sài Gòn” rồi.

Bùi Vĩnh Thế

Giới thiệu về Dự Án Nam Bộ Chợ Lạc Xoong xem tại đây

Our goal is to help people in the best way possible. this is a basic principle in every case and cause for success. contact us today for a free consultation. 

Menu

Đăng ký nhận tin

Vui lòng điền email để nhận thông tin mới nhất