Tập này biên năm 2009, lần về Cái Bè ăn đám giỗ, nghe câu chuyện một ông chú hàng xóm của đứa bạn, sau chỉnh lại cho tròn trịa hơn.
Tui hơn năm mươi tuổi, cái tuổi mà người ta thường nghĩ đã cứng ruột như cây tràm mọc lâu năm ngoài bưng, gió cỡ nào cũng không ngã vậy mà có bữa, chỉ một tiếng cửa đóng mạnh của thằng con, tui nghe trong ngực mình trống hoác, như con rạch nhỏ bị rút nước giữa mùa hạn.
Nó bỏ đi về lại cái nhà nó thuê ở riêng sau một bữa cơm tối. Không phải cãi lớn, không phải chửi bới gì, chỉ là mấy câu nói ngắn nhưng sắc, cứa vô nhau như dao lùa cá. Tui hỏi nó tính chuyện cưới xin, tui nhắc tới công việc, tiền nong, cái nhà, nhắc hoài mấy điều tui cho là lo xa. Mỗi câu nói của tui giống như một lớp lưới giăng thêm, siết chặt hơn. Tới lúc nó đứng dậy, xách balô, mặt lạnh tanh, tui mới hiểu: tui đã biến căn nhà này thành chỗ ngột ngạt hơn cả ngoài đời. Cửa đóng lại, tiếng khóa lách cách nghe nhỏ xíu mà nặng trịch, như tiếng neo sắt quăng xuống lòng sông.
Tui ngồi lại một mình.
Căn nhà im lặng kiểu mấy cái xóm ven sông buổi trưa nắng gắt, chó cũng không buồn sủa. Trên bàn là mâm cơm còn nguyên, canh chua nguội, cá kho cạn nước, cơm khô mặt. Tui nhìn mâm cơm đó lâu lắm, rồi chợt thấy nó giống mâm cơm hồi xưa của Má.
Má tui, trong nhà, là người ít tiếng nhất, ít như con nước ròng, cứ rút dần mà không ai hay. Má không cãi, không than, không giành gì của ai đó giờ, Má giống như cây lục bình trôi trên sông, ai đụng cũng né, ai xô cũng trôi, không hề mắc lại đâu.
Ba tui mất từ hồi tui còn nhỏ xíu, lúc ở với Má tui đâu có để ý, tui sống trong cái thương của Má như sống trong không khí, có đó mà không thấy. Sáng ra là có cơm ăn, áo quần lúc nào cũng sạch, phơi thẳng thớm trên dây, gió thổi nghe phần phật, tối về là có đèn dầu, có tiếng chén đũa, có bóng má lom khom nấu ăn bên bếp. Vô mâm, ba cái phần ngon nhất trôi vô chén tui, còn lại trong chén má chỉ là mấy miếng cá sát xương, mấy cọng rau mềm oặt. Má ăn chậm, ăn nhỏ, như sợ động tới ai.
Má ít bệnh, hay đúng hơn là bệnh mà không ai biết. Lưng Má còng dần theo từng mùa lúa, giống mấy cây dừa nước ngoài bưng, rễ cắm sâu mà thân cứ cúi xuống. Má hay đứng xoa lưng, xoa gối, rồi lại làm tiếp. Cái đau của Má âm ỉ như nước mặn ngấm vô ruộng, không thấy liền, tới khi lúa héo mới hay.
Tui lớn lên, lấy vợ, dọn đi, Má ở mình ên trong cái căn nhà cũ, cái nhà nó trống dần, giống cái bến sông ít ghe cập, tui về thăm ít dần. Mỗi lần về, Má mừng nhưng cái mừng đó lặng lẽ, không ồn ào. Má hỏi tui đủ thứ, hỏi con cái, hỏi làm ăn, tui trả lời cho có, trong đầu đã tính chuyện khác. Tui đâu có biết, trong dạ Má chỉ cần tui ngồi thêm chút nữa, Má chỉ cần nghe tui thở trong nhà.
Hồi đó, mỗi lần tui dọn đồ đi về lại Sài Gòn, Má hay ra đứng ngoài bến sông, má không có đứng ở giữa, chỉ đứng nép bên mấy gốc dừa nước, chỗ đất lở ăn vô từng chút. Má đứng đó lâu lắm, lâu tới mức con nước đổi chiều mà má không hay. Tui đi rồi, dòng sông ở lại với Má.
Nghe bà Tư hàng xóm kể: “Bữa nào trời mát, Má bây cũng ra đó, không phải để coi ghe, cũng không phải chờ ai, chỉ đứng nhìn mặt nước trôi, nhìn mấy cọng lục bình dạt vô rồi trôi ra, y như đời người tới rồi đi, không kịp nói câu nào cho trọn”.
Dòng sông đó chắc biết hết, biết mấy bữa Má đứng ngóng tui về tới lúc bóng chiều đổ dài mà bến vẫn trống. Chắc nó cũng biết luôn mấy bữa Má quay lưng đi sớm hơn vì sợ đứng lâu thêm chút nữa thì lòng mình mềm ra, chịu không nổi. Biết cả mấy lần má lau nước mắt bằng vạt áo cũ, lau nhanh như sợ ai thấy.
Tui đâu có hay, tui đi ngang đời má như ghe máy chạy nước lớn, sóng đánh hai bên bờ mà không ngoái đầu lại. Tới khi Má bệnh, đưa vô nhà thương bác sĩ nói bệnh lâu rồi, lâu như mấy vết nứt trên bờ đê, ban đầu nhỏ xíu, ai cũng nghĩ không sao, tới lúc nước tràn mới hối. Má nằm đó, người nhỏ lại, giống trái bần chín rụng bên bờ sông. Má không than, chỉ dặn tui lo cho vợ con, tới lúc gần đi, má vẫn nghĩ cho người khác.
Sau cái đám tang Má, tui quyết định về lại quê, dọn dẹp lại nhà của Má, mở tủ thấy mấy cái áo bà ba cũ, giặt sạch, xếp thẳng thớm. Dưới đáy tủ là túi vải nhỏ, có ít tiền lẻ với cuốn sổ mỏng. Má ghi từng đồng chi tiêu, từng lần ít ỏi tui gửi tiền về, không có dòng nào ghi cho Má. Trang cuối, mực nhạt dần: “Để dành, phòng khi thằng nhỏ nó cần.”
Tui ngồi đó, giữa căn nhà trống, nghe trong lòng mình sụp xuống như bờ đất bị nước khoét rỗng ruột.
Tui tự hứa tui sẽ khác, sẽ nói, sẽ không để thương mà không ai biết, sẽ không để con mình lớn lên trong sự im lặng như tui ngày xưa vậy mà bây giờ, tui đang ngồi đúng chỗ của má hồi đó. Cũng ăn sau cùng, cũng quen nuốt mấy miếng nguội, cũng bắt đầu ít nói, bắt đầu giấu mệt, giấu buồn, giấu cả cái cô đơn rịn ra từng ngày như mồ hôi dưới nắng trưa. Tui thương con, nhưng cái thương của tui nặng như bao lúa ướt, tui sợ nó khổ, sợ nó sai, sợ nó giống tui ngày trước. Tui nói nhiều quá, nói tới mức nó không còn chỗ thở. Nó bỏ đi, chắc cũng giống tui ngày xưa rời khỏi nhà má, không phải vì ghét, mà vì ngột.
Tối đó, tui dọn mâm cơm xuống, ngồi ăn một mình. Gắp miếng cá ngon nhất, tay khựng lại giữa chừng, có nó đâu mà để nhường, không còn ai ngồi chờ. Ngoài hiên, dòng sông chảy lặng, nước đục trôi chậm, mang theo mấy cọng lục bình dạt dào. Tui nhìn dòng nước, thấy mình đang đứng đúng chỗ của má ngày xưa, cũng ngóng, cũng chờ mà chờ trong lặng thinh.
Lúc đó tui mới hiểu, nỗi buồn này không giống mưa dông ào xuống rồi tạnh, nó giống nước rỉ trong bờ bao cũ, ban đầu chỉ ướt chân, lâu ngày đất mềm ra, tới lúc sụp thì không kịp trở tay. Sự hối hận của tui cũng vậy, không đau nhói, nó nằm im như con đỉa nước bám dưới bùn, ngày nào cũng hút một chút. Hút tới khi tui ngồi đây, hơn năm mươi tuổi mới nhận ra ngày xưa tui đã để Má sống một đời lặng thinh, còn tui thì vô tư đi ngang, không ngoái đầu lại.
Giờ nghĩ lại, tui thấy mình giống y chang mấy con nước lớn, tới khi nước ròng bãi bồi trơ ra mới hay dưới lớp phù sa đó đã bị vùi lấp bao nhiêu thứ.
Có những câu thương tui để trễ như con nước qua kỳ, có những lời xin lỗi tui biết rồi nhưng Má thì không còn đứng bên bờ sông đó nữa để nghe tui nói.
Con nhớ Má ghê.
Bùi Vĩnh Thế
Giới thiệu về Dự Án Nam Bộ Chợ Lạc Xoong xem tại đây